Binh khí võ cổ truyền

  • BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - ĐAO PHÁP Võ sư Trương Văn Bảo Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam ĐƠN ĐAO Ngạn ngữ võ học chép rằng: Đao là lá gan ...
    Được đăng 20:59, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM
  • Binh khí Võ cổ truyền - Thương pháp BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - THƯƠNG PHÁP ANCIENT WEAPON - THE SPEAR   Võ sư Trương Văn Bảo Thiếu Lâm Phật Gia Quyền Đà Lạt ...
    Được đăng 20:52, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM
  • BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - CÔN PHÁP Võ sư Trương Văn Bảo Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam Lịch sử côn lâu đời, trước đây nguyên thủy ...
    Được đăng 20:50, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM
  • Binh khí Võ cổ truyền - Kiếm pháp BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - KIẾM PHÁP CLASSICAL KUNG FU WEAPON - THE SWORD   Võ sư Trương Văn Bảo Liên đoàn Võ thuật cổ truyê ...
    Được đăng 20:44, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM
Hiển thị bài đăng 1 - 4trong tổng số 4. Xem nội dung khác »

Binh Khí Võ Cổ Truyền Gồm 18 môn tương ứng với 18 món binh khí: côn, kiếm, đao, thương, giáo, kích, xà mâu, đinh ba, bồ cào, thiết bản, song tô, song xỉ, song câu, bút, phủ (búa), chuỳ, cung tên, lăn khiên.

1- Côn (roi)

Làm bằng gỗ, tre, mây, cũng có khi làm bằng kim loại, chia làm trường côn và đoản côn. Trường côn là roi dài gồm hai thứ là roi đấu (trường tiên) dài khoảng 3m và roi chiến (trung bình tiên) dài khoảng 1,5m. Roi đấu dùng để đánh trên ngựa. Roi chiến dùng để đánh dưới đất. Đoản côn là roi ngắn.

c%C3%B4n Võ cổ truyền   18 loại binh khí

Còn có một loại côn nữa là côn nhị khúc, làm bằng hai thanh gỗ cứng hoặc kim loại dài bằng nhau, nối với nhau bởi một sợi dây dài tết bằng tóc người hoặc bằng lông đuôi ngựa. Loại côn này gọn, mạnh, thích hợp cho lối đánh gần, có thể đổi tay phải tay trái tùy ý. Khi đánh dùng một thanh làm trụ, đánh bằng thanh kia, phóng ra thu về, biến hoá linh hoạt.

2- Kiếm:

Gồm chuôi kiếm, lưỡi kiếm và bao kiếm. Phần lưỡi dài, phiến dẹt, bề rộng chừng 3 – 4cm, cạnh mảnh và cực bén, rèn bằng kim loại tốt như sắt, thép, hợp kim. Phần cán (chuôi) bằng gỗ, có khi cán cũng được đúc bằng kim loại hoặc mạ vàng, chạm trỗ rất đẹp. Vỏ kiếm được chế tạo cũng bằng kim loại mỏng và cứng, dùng để bao ngoài lưỡi kiếm, một đầu kín một đầu hở khi gài vào ăn khớp với cổ chuôi kiếm.

Kiếm thuộc hàng vũ khí thanh nhã, sang trọng, được rèn theo yêu cầu của người sử dụng. Thường phải đảm bảo ba yếu tố: sắc bén, đẹp, có độ nặng, độ dài phù hợp với sức vóc người cầm. Kiếm lệnh là kiếm chỉ huy, lược trận, phân biệt với kiếm trận ở chỗ kiếm lệnh lưỡi cong, còn kiếm trận lưỡi thẳng. Lại tùy theo độ dài ngắn mà phân thành trường kiếm và đoản kiếm. Trường kiếm độ dài xê dịch trong khoảng 1,2m đến 1,5m, có thể giao tranh trên mặt đất hoặc trên ngựa đều tiện lợi. Đoản kiếm là kiếm ngắn, từ chuôi đến ngọn dài chừng năm, bảy tấc, thích hợp với lối đánh cận chiến, giáp chiến. Thường con nhà võ chỉ tuốt kiếm khỏi bao khi giao đấu. Trong giao đấu, vỏ kiếm cũng là một vũ khí để đánh, đỡ, gạt, hất rất lợi hại. Tuy vậy, cũng có không ít những thanh kiếm để trần.

Thời chống Pháp trở về trước, kiếm là môn binh khí rất phổ biến trong võ thuật Bình Định. Nữ tướng Bùi Thị Xuân chuyên đánh song kiếm. Ở Bảo tàng Quang Trung hiện còn lưu bức tranh Bà cưỡi voi trận, tay cầm song kiếm, uy phong lẫm liệt.

3- Đao:

Có cán bằng gỗ cứng, lưỡi đao càng về phía trước càng to bản, được vát hơi cong dần về phía mũi. Về chủng loại có đơn đao, song đao, đại đao, phác đao. Đại đao là vũ khí nặng, cán dài. Người sử dụng đại đao phải có sức vóc hơn người. Triều Tây Sơn có bốn người nổi tiếng về đại đao là Nguyễn Huệ, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu và Đặng Văn Long. Đặc biệt là Võ Văn Dũng, tài sử đao của ông được Nguyễn Nhạc khen ngợi: “Phá sơn trung tặc dị, thắng Văn Dũng đao nan” nghĩa là Phá giặc trong núi dễ, thắng ngọn đao Văn Dũng mới khó.

4- Thương:

thuong Võ cổ truyền   18 loại binh khí

Là vũ khí dài, cán làm bằng gỗ cứng, ở đầu có mũi hình thoi nhọn ở đầu đúc bằng sắt. Cách dùng côn và thương về căn bản giống nhau, nhưng côn thiên về đả, tức đánh xuống, còn thương thiên về đâm.

5- Giáo:

Là loại vũ khí dài khoảng 2 – 2,5m bằng một loại tre đực đặc ruột có đầu vót nhọn bịt kim loại, dùng trong trận mạc. Cách đánh như côn, nhưng lợi thế hơn ở chỗ có mũi nhọn để đâm. Tương truyền đây là vũ khí đắc dụng của nghĩa binh Mai Xuân Thưởng, vì vùng nông thôn Bình Định rất sẵn tre.

6- Kích:

Là vũ khí dài, cán bằng gỗ cứng hoặc đúc bằng kim loại nặng. Phương thiên hoạ kích có một mũi nhọn ở giữa giống ngọn giáo, hai bên là hai vành đao lưỡi liềm day lưng vào nhau. Bán thiên kích thì chỉ có mũi nhọn với một vành đao lưỡi liềm. Kích nặng ở đầu nên sử dụng không được linh động như thương.

7- Xà mâu:

Là loại vũ khí dài, nhọn, phần trên cùng đúc kim loại uốn khúc như hình rắn.

8- Đinh ba:

Là loại vũ khí cán dài, một đầu tra lưỡi sắt có ba răng nhọn xỉa thẳng về trước. Đinh ba vận dụng các chiêu thức của côn, thiên về phóng, đâm, xóc.

9- Bồ cào:

Cũng là vũ khí cán dài, một đầu tra lưỡi sắt hình răng lược, giống như cái cào cỏ ở nông thôn Bình Định. Bồ cào cũng vận dụng chiêu thức của côn nhưng lại thiên về đập, giật.

10- Thiết bản:

Là một thanh kim loại vuông cạnh, dài chừng 1m, tiện dụng ở chỗ gọn gàng, con nhà võ có thể giắt bên hông hoặc sau lưng khi di chuyển.

11- Song tô:

Là hai lưỡi dao thép to bản, ở cán cầm có phần bảo vệ tay. Thích hợp đánh cận chiến.

12- Song xỉ:

Song xỉ là vũ khí dùng cho hai tay, gồm hai thanh sắt dài, hai đầu nhọn như lưỡi dao găm, phần thân bo theo cánh tay từ chỏ ra bàn tay, phía chỏ có dây da quấn vào bắp tay, phía trước có đai sắt để luồn bàn tay vào cầm cho chắc. Đặc điểm riêng của song xỉ là gọn, sắc, mạnh, thích hợp lối đánh gần, đòi hỏi người sử dụng phải tinh mắt, giỏi quyền cước, di chuyển mau lẹ.

13- Song câu:

Là vũ khí đôi gồm các phần câu, phần hộ thủ, phần lưỡi được đúc liền nhau. Phần câu cong như rựa quéo, để móc, hãm vũ khí hoặc một số vùng trên cơ thể địch thủ như cổ, vai, cổ tay, cổ chân, bắp đùi, hông… Phần thân giống như lưỡi kiếm. Chuôi cầm được bọc vải, da hoặc gỗ, có một lưỡi liềm để bảo vệ tay, gọi là phần hộ thủ. Song câu được sử dụng biến ảo linh hoạt, thích hợp lối đánh vừa công vừa thủ.

14- Bút:

Đúc bằng kim loại nặng, dài khoảng 5-7 tấc, phần cán tròn, đặc ruột, phần ngọn hình búp sen, cuối cán có sợi dây để buộc vào cổ tay người sử dụng, sau khi phóng ra có thể thu về. Dùng đôi gọi là song bút, dùng đơn gọi là độc bút.

15- Búa (phủ):

Búa là loại vũ khí gần giống với rìu chặt cây của tiều phu. Cán búa làm bằng gỗ cứng dài chừng một cánh tay. Lưỡi búa đúc hoặc rèn bằng sắt, thép tốt, rất nặng. Búa đơn gọi là độc phủ, búa đôi gọi là song phủ. Những chiếc búa đặc biệt trên sống còn được chạm đầu hổ hay đầu rồng rất tinh vi, gọi là hổ đầu phủ hoặc long đầu phủ. Chiêu thức của búa gồm các đòn ngắn, mạnh, trực diện, khả năng sát thương kẻ địch rất lớn, thích hợp với lối đánh thấp, cận chiến, trên bộ. Người sử dụng búa phải có sức lực hơn người, thân pháp cực kỳ mau lẹ.

16- Chuỳ:

Là loại vũ khí có tay cầm ở giữa là một thanh gỗ cứng hoặc kim loại, hai đầu là hai khối kim loại (sắt, thép, đồng) đặc ruột hình thuẫn hoặc hình tròn, ngoài mặt đúc nổi gai lục giác hoặc xẻ cạnh khế. Bề ngang có đường kính chừng 10 – 15cm. Chuỳ cũng có chùy đơn và chuỳ đôi.

17- Cung tên:

Cung đầu tiên là công cụ săn bắn, sau mới thành vũ khí chiến đấu. Thân cung và hai cánh cung làm bằng gỗ cứng, có khi là gốc tre lâu năm. Giữa thân cung có rãnh lắp tên. Đầu hai cánh cung được khoét lỗ tròn hoặc đính khuy sắt để căng dây cung. Dây cung thường làm bằng gân trâu hoặc một loại sợi đặc biệt dẻo và cứng, có tính đàn hồi cao, khi kéo mạnh sẽ làm cánh cung cong lại, tạo sức bật đẩy mũi tên bay xa. Tên làm bằng gỗ cứng hoặc tre già, mũi vót nhọn. Về sau, người ta bịt kim loại ở đầu mũi tên hoặc đúc tên sắt, tên đồng để tăng hiệu lực, xuyên thủng được vật cứng.

Môn bắn cung phải qua nhiều giai đoạn tập luyện: giương cung, nhắm đích, quỳ bắn, đứng bắn, dưới đất, trên ngựa. Mục tiêu bắn cũng đa dạng: từ gần tới xa, từ diện đến điểm, từ cố định đến di động. Lại được dạy các mánh khóe đánh lừa kẻ địch như giương đông kích tây, giương nam kích bắc v.v. Người bắn cung giỏi có thể bắn chim đang bay, hoặc còn nói trước được mình sẽ bắn rơi con thứ mấy trong đàn. Nổi danh về bắn cung ở Tây Sơn xưa từng có La Xuân Kiều, Đặng Xuân Phong, Lý Văn Bưu.

18- Lăn khiên:

Khiên là một tấm chắn bằng gỗ hoặc đan bằng cật tre, mây, dùng để đỡ gạt trong khi giao chiến, nhất là trong đánh trận, công thành. Nghĩa quân Tây Sơn rất thành thạo môn lăn khiên – một tay cầm khiên để hứng tên bắn từ xa hoặc đỡ gươm giáo khi đánh xáp lá cà, trong khi tay kia sử dụng một vũ khí khác để tấn công kẻ địch.

(Trích Báo Bình Định)

BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - ĐAO PHÁP

đăng 20:58, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM

Võ sư Trương Văn Bảo
Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam



ĐƠN ĐAO

Ngạn ngữ võ học chép rằng:
Đao là lá gan của trăm loại binh khí.
Đao như mãnh hổ.
Đơn đao xem triển thủ, song đao xem bộ pháp.
Đại đao là “bách quân chi nguyên soái”, nghĩa là nguyên soái của trăm quân…



Trong các loại khí giới thì đao là thứ khí giới phổ thông và lợi hại hơn cả. Đao gồm các loại đơn đao, song đao và đại đao. Tuỳ theo các môn phái võ mà đao có khác nhau về tên gọi. Phép sử dụng đao làm sao cho khẩn mật cũng đòi hỏi phải có sức lực. Một thanh đơn đao phân làm ngũ vị, gồm Thiên, Địa, Quân, Thần, Sư; cũng như trong ngành văn có Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín vậy.

Lưng đao là Thiên. Lưỡi đao là Địa. Giữa chuôi đao là Quân. Bộ phận che chuôi đao (đao bàn) là Thần. Phần cuối chuôi đao là Sư. Ba tấc về phía mũi đao gọi là Liệu nhận. Tua chỉ đỏ ở đại đao gọi là Xuy phong. Đơn đao phân làm 6 thức là triển, mạt, câu, đoá, khảm, phách. Mũi đao, lưỡi đao hướng ra ngoài là triển, hướng vào trong là mạt, co lại là câu, đưa ngang là đoá, giơ lên quá đầu là khảm, hai tay nắm chuôi đao chặt xuống là phách. Kích thước và trọng lượng đao tùy sở trường của người sử dụng, thông thường tay buông thõng, cán đao đặt trong hổ khẩu của bàn tay, đao dựng đứng, mũi đao ngang vành tai dưới là vừa.

Về phép sử dụng đao thì không nhảy nhót nhiều. Khi luyện đao, một tay cầm đao, còn một tay không. Thường thì cầm đao tay phải. Sự thật thì tay cầm đao không khó, khó nhất là tay không cầm đao. Cho nên khi xem đao pháp của một người tới trình độ nào, ta chỉ cần nhìn vào tay không cầm đao của người đó, xem có tiến thoái tự nhiên theo đao pháp không. Đối với song đao, bộ pháp là quan trọng, đường đao tuy phức tạp nhưng phải theo thứ tự, không được rối loạn. Vì thế ngạn ngữ võ học nói rằng: “Đơn đao xem triển thủ, song đao xem bộ pháp”.

Luyện đao cốt yếu ở chỗ định thủ, định thủ là tay phải làm chủ được cây đao, không cúi đầu, cong lưng, thế đao đánh ra thu vào có mức độ, phải tưởng tượng trước mắt có địch thủ đang giao đấu với mình. Trọng lượng cây đao cũng phải được lưu ý. Tập tục luyện đao thường mãnh liệt đã trải cả ngàn năm. Thời xưa lính tráng đấu nhau bằng khí giới ngắn, người dùng đao rất đông. Múa đao lên, đao rít vù vù, hàn quang khiếp người, chỉ nghe gió đao rít mà không thấy bóng người, dũng mãnh, oai võ, hùng mạnh có thừa. Phong cách như mãnh hổ. Mũi đao, lưỡi đao là bộ phận nhọn sắc nhất chủ về tấn công, sống đao rộng, dài, kiên cố chuyên về phòng thủ.

Thời xưa, đao lại khá nặng, khi muốn chặt, bổ nhát nào cho kiến hiệu thì ra đao phải mau le, có lực. Để biểu hiện được đặc điểm mạnh của đao thuật thì cần phải thành thạo, nắm vững các loại đao pháp và lực pháp, phối hợp chặt chẽ được thân pháp, bộ pháp, nhãn pháp, đao pháp. Khi luyện tập đao thì khí đầy lực mạnh, thân và đao hoà hợp, đao theo thân chuyển, từ thân thể kéo tứ chi để gíup đao phát lực, bộ pháp phải nhẹ nhàng linh hoạt, nhanh nhẹn, vọt nhảy, xoay chuyển, tiến lùi tự nhiên thoải mái, hai mắt tinh anh, ánh sáng hừng hực, vung đao nhanh chậm, nặng nhẹ tương ứng, thu duỗi tự nhiên.

Đao pháp cơ bản của đơn đao có quấn đầu ôm gáy, múa hoa, cắt đỡ, bổ, chặt, thọc, đâm, chém, vớt…

ĐẠI ĐAO.

Đại đao được gọi là “nguyên soái của trăm quân”, phần lớn cầm chắc hai tay mà vũ động. Yếu lĩnh của đao pháp gọi là “đại đao xem lưỡi” chính là các loại đao pháp đều vận dụng rõ ràng ở lưỡi đao. Khi diễn luyện, một chiêu, một thức bổ mạnh, chém rộng, một động, một tĩnh đều uy vũ đường đường.

Chiến tranh cổ đại, đại đao thường dùng cho chiến tướng làm binh khí giao đấu ở trên lưng ngựa, uy lực rất lớn. Cả cây đao do thân đao, cán đao, đĩa đao và vòng kêu là bốn bộ phận lớn cấu tạo nên. Chiều dài và độ nặng đại đao tùy sở trường danh gia sử dụng. Đao có độ nặng dễ đằm tay và ra chiêu hiệu quả, độ dài vừa theo chiều cao của người sừ dụng, dài quá sẽ vướng và chậm, ngắn quá thì không phát huy được hết uy lực của đao.

Một số chủng loại đao nổi tiếng như Quan Công đại đao (Guan Yi big knife), Thanh long yểm nguyệt đao (The big knife with a green dragon and the crescent moon), Xuân Thu đại đao (The big knife of Spring and Autumn), Cửu hoàn đại đao (Nine rings big knife) Trảm mã đao (Chop horse big knife)…

Luận về đại đao, Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường - một trong ngũ hổ tướng đời Tam Quốc (221 - 265), được hậu thế tôn xưng là Thánh “Trung nghĩa thiên thu” (God of Righteousness), là người rất nổi tiếng về sử dụng Thanh long đại đao nói rằng: “Đường đao dễ phát khó thu, khó mà nắm cho linh hoạt được, để bù lấp khuyết điểm ấy phải rèn sức tay, tập trung sức lực vào hai cánh tay, dồn vào cán đầu, dùng sức làm cho cánh tay bạt đao hợp nhất, như vậy mới có thể sử dụng linh hoạt và như ý.”

Đao pháp chủ yếu có chém, bổ, miết, xoay, khều, gác, đẩy, kéo, gạt, đỡ, vớt, đâm…

Các môn phái, võ phái, võ đường Võ cổ truyền Việt Nam đều có bài bản về đao.
Trong hệ thống binh khí Võ cổ truyền, đại đao còn có tên goi là “siêu”. Siêu là loại hình đao lớn, cán dài giống như đại đao, theo nghiên cứu phân tích kỹ thuật lưỡi siêu nhỏ hơn đại đao.

Sử chép Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), danh tướng triều Lý, oai phong lẫm liệt trên lưng ngựa, bằng những võ công kỳ vĩ, với thanh đại đao tung hoành chiến trận, Bắc đánh Tống, Nam bình Chiêm, bách chiến bách thắng, đã làm rạng rỡ uy danh một thời cho tổ quốc.

Sách Võ nhân Bình Định của Quách Tấn - Quách Giao ghi lại thời Tây Sơn có Tam Thần Đao đó là Ô long đao của Nguyễn Huệ, Huỳnh long đao của Trần Quang Diệu và Xích long đao của Lê Sĩ Hoàng.

Ô long đao là tên đao của Nguyẽn Huệ. Truyền rằng một hôm đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa, để tạo không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin có hai con rắn mun lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu Xà.

Thanh Ô long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen, không có hào quang mà chỉ có khí lạnh. Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hằng trăm người. Năm Kỷ Dậu (1789) Ô long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

Huỳnh long đao là thanh thần đao của sư phụ Diệp Đình Tòng truyền tặng cho tướng quân Trần Quang Diệu. Sở dĩ có tên Huỳnh long vì tại nơi đầu con cù ngậm lưỡi đao được thếp vàng. Cặp song đao Ô long và Huỳnh long phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh long góp phần tạo nên.

Xích long đao của tướng Lê Sĩ Hòang. Sở dĩ có tên Xích long vì tại nơi đầu con cù ngậm lưỡi đao được sơn màu đỏ. Nguyên sau khi dẹp xong quân Mãn Thanh, Vua Quang Trung mở hội thi võ để chọn thêm nhân tài giữ nước. Lê Sĩ Hòang, người quê Quảng Nam ra kinh ứng thí. Hoàng dũng sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo, chăn trâu cho một phú ông trong thôn. Nhà gần núi nên một hôm trâu bị cọp bắt, Hoàng sợ chủ hỏi tội nên chạy trốn vào rừng sâu. Lạc đường không tìm được lối ra, gặp dị nhân truyền thụ võ nghệ. Lê Sĩ Hoàng có sức mạnh hơn người, võ nghệ tuyệt luân, chuyên sử dụng cây Xích long đao của sư phụ truyền cho.

Nguyên nghĩa võ thuật là nghệ thuật quân sự (military arts). Ngày xưa quyền thuật, binh khí dùng tác chiến nên chiêu thức yêu cầu thực dụng, hiệu quả. Nếu những chế tác “đầu Ngô, mình Sở”, lấy bên này ghép lại bên kia, lấy côn pháp chế làm thương pháp, lẫn lộn kiếm pháp với đao pháp, mua may quay cuồng tưởng là đẹp mắt nhưng đòn thế vô dụng thì không phải là yếu lĩnh của võ thuật. Văn có văn phạm, võ có võ lý, nhất nhất phải theo pháp của từng môn.

Anh hùng hảo hớn nhiều người dùng đao. Chiến tranh chống thực dân bảo vệ tổ quốc Việt Nam, các nghĩa quân, nghĩa sĩ dùng giáo, mác, gậy, gươm, đao… áp dụng cùng chiến thuật du kích rất hiệu quả. Hậu thế hôm nay nếu không hiểu được ý nghĩa của Võ cổ truyền Việt Nam, không biết tôn vinh giá trị lịch sử, văn hóa đúng tầm thì thật là có tội với tiền đồ dân tộc.

 

Đà Lạt, 5/2011
TVB


Tài liệu tham khảo:
- Võ sư Vạn Lại Thanh, Vy Đà - Thiếu Lâm,
- Võ sư Trịnh Cần - Điền Vân Thanh, Sự thần kỳ của võ thuật, NXB Nhân dân Quảng Tây, 1993
- Quách Tấn, Quách Giao, Võ nhân Bình Định, NXB Trẻ, 2001
- Sifu Wong Kiew Kit, The complete book of Shaolin, Cosmos Internet Sdn Bhd, Malaysia, 2002

Binh khí Võ cổ truyền - Thương pháp

đăng 20:52, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM

BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - THƯƠNG PHÁP
ANCIENT WEAPON - THE SPEAR

 

Võ sư Trương Văn Bảo
Thiếu Lâm Phật Gia Quyền
Đà Lạt - Việt Nam

 

Thương pháp là cách thức sử dụng thương. Thương thuật là kỹ thuật, nghệ thuật dùng thương. Người xưa nói rằng: Thương đâm một đường kẽ, côn đánh cả vùng rộng. Thương thọc một đường, gậy đâm một nẻo. Đao như mãnh hổ, thương tựa giao long.

Nhiều tài liệu nghiên cứu binh khí võ cổ truyền từ trước đến nay, tuy có khác nhau về cách lý giải thương pháp, thương thuật của các danh gia, nhưng vẫn nhiều điểm tương đồng, có thể diễn giải chung một quan điểm.

Thương là một loại khí giới thời cổ, trong chiến đấu chuyên đâm, thọc và có lực sát thương rất lớn. Thương là do mũi thương, ngù thương, cán thương cấu tạo thành. Thương có độ dài ngắn khác nhau và tên gọi cũng khác nhau. Trong thi đấu võ thuật hiện đại, quy định thương bằng chiều cao của vận động viên và giơ tay lên, ta gọi là một đầu và một với. Thương có rất nhiều chủng loại nhưng gần gũi với chúng ta trong tập luyện hiện nay là tứ giác thương, tiễn hình thương, đơn câu thương, song câu thương.

Thương thuật cơ bản là cầm thương vững trơn, trước quản sau khóa, trước lỏng để dễ điều khiển, sau chặt chẽ, vững vàng. Hai tay cầm thương chắc mà không chết cứng, trơn mà không tuột. Thế giữ thương quý ở tứ bình: đỉnh bằng, vai bằng, chân bằng, thương bằng, gốc không rời hông. Đâm thương thì ra thẳng, vào thẳng, phải bằng, ngay, linh hoạt, mau lẹ, kình lực mạnh từ hông đâm thẳng thấu ra tận đầu mũi, thế thương vào ra như giao long ẩn hiện.

Thương là loại binh khí cổ, dài, nặng do vậy khi sử dụng không thường thấy múa hoa. Động tác của thương phần lớn lấy công lực, thực dụng làm chính. Pháp dụng thương thì thương đi như tên bắn, lúc hồi thương liền lạc như dây kéo. Trước thì có xuyên chỉ, xuyên tụ, sau thì có Lê Hoa bãi đầu, có hư thật, có kỳ chính, có hư hư thực thực, kỳ kỳ chính chính. Tiến thì dũng mãnh, lui thì nhanh nhẹn. Thế phải hiểm, bất động thì vững như núi, động thì mau như sấm chớp.

Luyện thương pháp thì theo thứ tự nhất tiệt, nhị tiến, tam lan, tứ triền, ngũ nã, lục trực. Thương pháp luyện đến chỗ tinh diệu sẽ có được thân pháp mau lẹ uyển chuyển. Cây thương có tua chỉ đỏ gọi là Huyết đương thương, còn cây thương có tua chỉ đen gọi là Tố anh thương. Tua chỉ ở ngù thương rất quan trọng, nó có thể làm hoa mắt đối phuơng, che dấu mũi thương và có khi dùng để quấn, khóa binh khí cuả địch. Vì thân thương dài, biên độ động tác rộng lớn, nên khi tập đại thương yêu cầu thân không rời thương, thương không rời trung tâm, phải có lực ở cánh tay, lực hông, lực chân và thân pháp uyển chuyển, bộ pháp nhanh nhẹn. Khi đâm thương chú ý sao cho thân, bộ đẩy ra trước, gía lên trên khi đến đỉnh đầu là phải rút về, khi đè được khí giới của đối phương là phải hồi thương chuyển thế ngay.

Thương pháp của các môn phái võ, các danh gia tuy nhiều nhưng tựu trung có đâm, thọc, khều, gạt, lăn, giã, lắc, quấn, đỡ, đè, chặn… Các thức trong thương pháp gồm triền thương, lan thương, phá thương, phá lan, trung bình, tử phục sinh, nhất tiến nhất thoái, nhất thượng nhất hạ, thủ pháp, lỗ pháp, thoa pháp, đề pháp, khán pháp, tiếp pháp, thân pháp, tọa pháp, trì pháp, lục phong lục bế.

Cây thương từng danh trấn giang hồ, lừng lẫy qua tay nhiều nhân vật lịch sử, thương dùng trong chiến trận hiệu quả và oai hùng, chiến tướng thường dùng thương trên lưng ngựa.

Sử Việt Nam mô tả những chiến công oanh liệt của vua Lê Đại Hành, húy là Lê Hoàn (941 - 1005), vị vua đầu tiên của Nhà Tiền Lê. Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có công phá Tống, bình Chiêm, giữ gìn, củng cố nền độc lập dân tộc, mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng, kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt .

Khi chưa lên ngôi, ông đã từng góp sức cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, được giao chức Thập đạo tướng quân (nên thường gọi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn), Điện tiền đô chỉ huy sứ (tổng chỉ huy quân đội). Trong chiến trận Lê Hoàn chuyên dùng thương. Theo tài liệu Việt Nam võ thuật đạo của cố lão võ sư Phạm Đình Trọng (1926 - 2008) tự Sa Vân Long, Đà Lạt - Lâm Đồng, có bài Lê Đại Hành thương pháp.

Triệu Vân (Zhao Yun; 168 - 229), tự Tử Long, người vùng Thường Sơn, một trong Ngũ hổ tướng (Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung, Mã Siêu) thời Tam Quốc ở Trung Hoa. Năm 208 Lưu Bị giao tranh với Tào Tháo, thua trận và bị đuổi chạy qua Trường Bản. Trong trận Trường Bản, Triệu Vân đã liều mạng sống của mình để bảo vệ gia quyến Lưu Bị, cứu được con trai của Lưu Bị là Lưu Thiện (A Đẩu); một thương một ngựa, “đơn thương độc mã”, tung hoành, tả xung, hữu đột, tiền hậu, tiến thoái giữa đại quân của Tào Tháo. Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung viết về Triệu Tử Long phò A Đẩu như một vị đại tướng anh hùng bách chiến bách thắng.

Cây thương đi vào đời sống với thành ngữ “đơn thương độc mã”, diễn tả hành động đơn độc, lẻ loi trước một việc nặng nề mà không có người hỗ trợ, giúp sức, ví như trong chiến trận, chỉ với một cây thương, một mình trên lưng ngựa, mà phải chiến đấu với một bên là đội quân hùng mạnh.

Võ cổ truyền Việt Nam có nhiều bài thương. Các môn phái, võ đường có bài riêng truyền dạy rộng rãi cho võ sinh, làm phong phú nội dung huấn luyện.

LIÊN HOÀN THƯƠNG

1. Lập bộ bái Tổ.
2. Niết quyết đề thương.
3. Tiên nhân chỉ lộ.
4. Nghịch mã hồi thương.
5. Liên hoàn thông thiên.
6. Liên hoàn thương pháp.
7. Toạ địa phục hổ.
8. Độc lập triều thiên.
9. Tả, hữu thích thương.
10. Thái Công điếu ngư.
11. Bạch xà thổ tín.
12. Thiên mã hành không.
13. Giao long hí thủy.
14. Đảo bộ trát thương.
15. Phụng hoàng điểm đầu.
16. Hỏa xà lộng vĩ.
17. Nhị lang đảm sơn.
18. Hồi thương thu thức.
(Thiếu Lâm Phật Gia Quyền - Đà Lạt)

TRUY MỆNH THƯƠNG

1. Chắp thủ đề thương.
2. Nhập môn bái tổ.
3. Tiên khai vấn lộ.
4. Mãnh hổ xuất sơn.
5. Loạn sát tứ phương.
6. La thành hồi mã.
7. Độc xà xuất động.
8. Lập bộ triều thiên.
9. Tả hữu vân biên.
10. Thần thương truy mệnh.
11. Ngư ông thám thủy.
12. Long hổ phong vân.
13. Khóa kiếm kỵ long.
14. Tỳ bà tảo địa.
15. Bạch hồng quán nhật.
16. Khương Thượng điếu ngư.
17. Hồi bộ kim kê.
18. Tiên nhân chỉ lộ.
19. Mãnh hổ xuất sơn.
20. Giao long quá hải.
21. Diện tiền phục hổ.
22. Lập bộ trung bình.
23. Chiêu về dụ địch.
24. Hoành thân tấn thích.
25. Thâu mã đề thương.
26. Công thành bái tổ.
(Võ cổ truyền Việt Nam)

 

Đà Lạt, tháng 4 năm 2011
TVB

BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - CÔN PHÁP

đăng 20:50, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM

Võ sư Trương Văn Bảo
Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam
Lịch sử côn lâu đời, trước đây nguyên thủy là công cụ sản xuất, chủ yếu trong xã hội ngày xưa, đồng thời cũng là một loại binh khí dùng chiến đấu sớm nhất trong chiến tranh. Do vậy côn có tên gọi là “bách binh chi tổ”, nghĩa là tổ của trăm binh khí.

Côn còn được gọi là bổng (bàng, gùn: tiếng Hoa; cudgel, stick, staff: tiếng Anh). Có nhiều lưu phái về côn thuật, vì vậy có nhiều tên gọi và chủng loại khác nhau. Côn có đoản côn, trung côn, tề mi côn, trường côn, đại tiểu tử côn, mẫu tử côn (thiết lĩnh), hổ vĩ côn..., ngoài ra cùng họ với côn cũng phải kể đến lưỡng tiết côn (côn nhị khúc), tam tiết côn (côn tam khúc).

Côn đánh một vùng rộng, linh hoạt cả hai đầu ngọn và đốc, có khả năng biến hóa được nhiều chiêu thức, hiệu quả và thực dụng. Chiều dài, độ nặng và đường kính thân côn không có quy chuẩn chung, mà theo sở thích và thể tạng của từng người. Tề mi côn cao ngang chân mày, trường côn cao bằng người sử dụng đứng thẳng, đưa ngang cánh tay sang bên, gập khủyu tay lên thành góc 900, côn tính từ mặt đất đến đầu mũi ngón tay. Thi đấu võ thuật hiện đại quy định chung đối với côn là cao bằng người sử dụng.

                                              

Về côn thuật có thể tung cao, nhảy rộng, thấp, bổ, quét, múa hoa, biến hóa, linh hoạt, tiếng gió côn ào ạt, khí thế cực kỳ dũng mãnh. Loại côn lớn ngày xưa khi vũ lộng thì phải có kình lực ở hông, chân và lực ở tay cũng đòi hỏi phải phối hợp, khi tác chiến thực sự thì lấy ưu thế chiều dài, độ lớn và sức nặng để chế ngự đối phương. Nghệ thuật đánh côn yêu cầu tay, mắt, thân pháp, bộ pháp… phải thống nhất hợp điệu, có lợi cho việc nâng cao thể lực, phát triển độ nhanh, sức bền, tạo tinh thần kiên cường, dũng cảm.

Côn pháp của các danh gia, võ phái phong phú, đa dạng, tuy tên gọi có khác nhau nhưng vẫn có chỗ tương đồng về kỹ pháp và yêu cầu. Pháp đánh côn thì bàn tay, cánh tay phải vê tròn hợp nhất với thân côn, lực thấu ra đầu ngọn côn, tiếng côn rít vù. Múa côn phải dũng mãnh, mau lẹ có lực. Hai tay cầm côn đóng mở, xoay chuyển phải vung tròn tự nhiên.

Phép cầm côn là để côn ngang, tay phải kể là ngọn từ dưới bám lên, tay trái kể là đốc từ trên bám xuống, thường gọi là tay côn âm dương, tuy nhiên trong chiến đấu thực tế, yêu cầu chiến thuật linh hoạt, cũng có lúc sử dụng kỹ pháp tay côn thuần âm (song âm) như “Chắp thủ song âm bái tầm long thế” trong bài côn Ngũ môn phá trận.

Côn pháp có đánh, bổ, đập, đâm, thọc, quất, phang, trạng (phất), hất, bật, loang thiên, đỡ, gạt, hoành, bắt, khắc, tạt, tém, loang địa…

Đối với Võ cổ truyền Việt Nam, trước đây roi là thuật ngữ thường dùng để gọi cho côn như: Roi Thái sơn, Roi Tấn nhất, Roi ngũ môn… hoặc câu ví địa danh nổi tiếng “Roi Thuận Truyền, Quyền An Thái”. Theo nhu cầu thực tế, roi có thể được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như gỗ, mây, tre, cũng có khi làm bằng kim loại nên có tên là thiết bảng (bổng) “Thiết bảng đả hồng hài” là câu thiệu diễn tả thế đánh của Tôn Ngộ Không tấn công Hồng Hài Nhi là Na Tra. Roi sắt (thiết côn) cũng là binh khí mà Phù Đổng Thiên Vương trong lịch sử Việt Nam dùng đánh giặc Ân.
Roi chia làm hai loại là roi trường và roi đoản. Roi trường là roi dài gồm hai thứ là roi đấu (trường tiên) dài khoảng 3m và roi chiến (trung bình tiên) dài khoảng 1,5 m. Roi đấu dùng để đánh trên lưng ngựa, sau này roi trường được dùng để phân tài cao, thấp ở đấu trường. Roi chiến dùng để đánh dưới đất gọi là roi bộ chiến và đoản côn là roi ngắn.
Côn pháp của Võ cổ truyền Bình Định tập theo 12 thế căn bản chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: Đâm, bắt, lắc, đánh. Nhóm 2: Bát, bắt, triệt, chận. Nhóm 3: Hoành, khắc, lắc, tém.

Côn là binh khí thực chiến nên có rất nhiều bài bản. Chương trình huấn luyện thống nhất của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam có bài Thái Sơn côn, tên gọi trước đây là Roi Thái Sơn hoặc Thái Sơn thảo pháp, là bài roi chiến nổi tiếng trong làng võ Tây Sơn - Bình Định - Việt Nam. Bài Thái Sơn côn được Hội nghị chuyên môn Võ thuật cổ truyền toàn quốc lần thứ nhất bình chọn năm 1993 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Lời thiệu: THÁI SƠN CÔN

Thái sơn, trích thuỷ, địa xà liên.
Thương thượng, lộng ky lân, thoái bạch viên.
Huy ky, độc giác, trung bình hạ.
Thượng thích, đại đăng, tấn thừa thiên.
Hồi đầu trực chỉ, liên tam thích.
Đồng Tân thuận thế, gián vân biên.
Tẩu độc thố, Trưng Sơn hoành gián kiếm.
Linh miêu mai phục, tấn thích ngưu.
Thừa châu, bố địa, khai côn thích.
Hồi tiểu kim kê, đả trung lang.
Phi phong tẩu võ, khai ngưu giác.
Tiểu tử tam phiền, giá mã an.
Bái tổ sư, lập như tiền.

Bài Phú: THÁI SƠN CÔN

Tay cầm roi đản khai trương,
Vọng tiền bái tổ là đường xưa nay.
Diện tiền thế ấy mới hay,
Thái sơn đích thủy côn này đổ nghiêng.
Đại xa phục thổ chẳng hiền,
Kỳ long phản ứng ngựa liền bay cao.
Hoành côn môt bước lướt vào,
Quy kỳ độc giác trực giao diện tiền.
Côn trùng tấn thích trung thiên,
Hồi đầu trực chỉ diện tiền tam giao.
Đồng Tân xuất thế anh hào,
Giang biên phá trận xông vào tiền môn.
Hoành sơn thỏ chạy dập dồn,
Phục châu hạ địa vương côn đảo trừ.
Linh miêu núp dưới bóng người,
Chờ trâu vùng dậy ngựa chùi tới đâm.
Thừa châu côn nọ tay cầm,
Biến thiên bố địa mà đâm diện tiền.
Lui về giữ thế trung kiên,
Đề côn đả kích phá yên trận đồ.
Gió rung lá rụng ồ ồ,
Sừng trâu mở rộng côn đồ chiên chi.
Thuyền rồng giũa biển linh đinh,
Mã yên triệu tử đoạt thuyền thành công.
(Võ cổ truyền Việt Nam - Tây Sơn - Bình Định)

Dịch lời thiệu:

Thái Sơn giọt nước chảy dài.
Ngoằn ngoèo ví tựa như loài rắn đi.
Nhấc côn quây phất một khi.
Lui về thủ bộ tựa như vượn ngồi.
Quay về dùng gốc côn thôi.
Hướng về phía trước đâm rồi quất ngang.
Đâm lên một ngọn cho sang.
Chân đèn đâp vỡ hướng ngang theo trời.
Rút về đâm thẳng một hơi.
Ba phen tấn thích điểm nơi diện tiền.
Đồng Tân thuận thế đánh liền.
Phá bờ sông nọ tiến lên vội vàng.
Đầu non thỏ chạy bao tròn.
Hoành thân phá kiếm đánh liền địch lui.
Linh miêu mai phục hẳn hoi.
Đâm trâu mở lối ra ngoài trùng vây.
Nương thuyền đập đất phóng ngay.
Loan côn đâm thẳng rồi quay trở về.
Kim kê thủ bộ càng ghê.
Trung lang trở bộ đánh ngay giữa vòng.
Mưa sầu gió thảm chưa xong.
Đầu côn trái phải như sừng húc ra.
Tiểu đồng thành nọ bước ra.
Hồi thân gác gậy mới là bình yên.
Người dịch: Lão võ sư Phạm Đình Trọng (1926 – 2008) - Đà Lạt - Lâm Đồng
Hội nghị chuyên môn VTCT toàn quốc lần thứ III – 1995


Đà Lạt, 5/2011
TVB

Binh khí Võ cổ truyền - Kiếm pháp

đăng 20:41, 8 thg 9, 2011 bởi MAI SON LAM

BINH KHÍ VÕ CỔ TRUYỀN - KIẾM PHÁP
CLASSICAL KUNG FU WEAPON - THE SWORD

 

Võ sư Trương Văn Bảo
Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

 


Đặc tính kiếm:

Kiếm là loại binh khí ngắn hai lưỡi, được tôn xưng là “Vua của trăm binh khí có lưỡi”. Sách sử chép rằng kiếm xuất hiện rất sớm từ thời xa xưa. Trong thời kỳ cổ đại, trừ việc dùng kiếm để chiến đấu và luyện tập võ nghệ, kiếm còn là vật tượng trưng cho quyền lực, địa vị của vua chúa, phân định đẳng cấp lễ nghi trong xã hội. Kiếm được các vị đạo sư, đạo sĩ dùng làm “pháp khí” trong tôn giáo với quan niệm cho rằng kiếm là vật có thể “ẩn thân, hàng yêu, trừ quỷ”. Ngoài ra kiếm cũng còn được coi là một vật trang sức phong nhã, nên văn nhân, học sĩ đeo kiếm để tỏ ra mình là người cao nhã, không dung tục.

Kết cấu của kiếm chia ra làm hai bộ phận chính gồm thân kiếm và cán kiếm. Thân do lưỡi kiếm, sống kiếm, mũi kiếm cấu tạo thành. Cán do vành chắn để bảo vệ tay, tay nắm, đốc kiếm, ngoài ra còn có bao kiếm, tua kiếm. Đo dài của kiếm xưa nay khác nhau không thống nhất. So sánh các vật cổ, người ta thấy rằng kiếm thường khoảng 100 đến 105 cm, trường kiếm dài đến 140 cm. Phong trào võ thuật hiện đại, độ dài của kiếm theo “quy tắc thi đấu võ thuật” qui định khi thi vận động viên cắp ngược kiếm thõng hẳn tay xuống thì mũi kiếm chấm đến vành tai là chuẩn.

Kiếm đi thức đẹp, kiếm tựa gió bay, kiếm như rồng lượn. Tĩnh kiếm như trinh nữ, động kiếm tựa rồng bay, kiếm hoa như phụng vũ.

Kiếm pháp:

Theo võ lý, yếu quyết của người dùng đao, dùng kiếm là “Đơn đao khán thủ, Bảo kiếm khán đàm”. Nghĩa là để đánh giá trình độ của người sử dụng đơn đao, người ta nhìn vào tay không cầm đao xem có phối hợp “ăn ý” với tay cầm đao không. Đối với kiếm, xem tay “kiếm chỉ” trong các kỹ thuật kiếm, tay “kiếm chỉ” có để đúng với đàm kiếm không. Đàm kiếm là phần từ vành chắn trở về sau đốc kiếm.

Sách viết và phân tích về binh khí Võ cổ truyền hiện nay không nhiều. Việc nghiên cứu, tìm hiểu, tập luyện kiếm phải tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài. Kiếm pháp của các môn phái võ cổ truyền có thể tổng hợp theo thứ tự:

- Áp: Đè kiếm lên, ngăn giữ.
- Băng: Vạch kiếm.
- Cách: Gạt kiếm đứng qua trái hoặc phải.
- Đề: Nâng kiếm.
- Điểm: Đâm mũi kiếm.
- Đới: Đưa kiếm thẳng từ dưới lên, thanh kiếm nằm ngang.
- Kích: Đánh, phóng kiếm nhanh tới.
- Khuấy: Ngoáy kiếm, đâm lắc bằng cổ tay xoay tròn trên một điểm nhỏ.
- Loang: Múa hoa.
- Phách: Bổ, chém kiếm thẳng xuống.
- Sí: Giăng kiếm ngang tầm vai như cánh chim.
- Tiễn: Người và kiếm cùng lao tới.
- Tiệt: Khảm, chặt kiếm để chặn phá thế.
- Trừu: Kéo kiếm xuống, cứa, rọc.

Yếu chỉ kiếm thuật:

- Hư lãnh đỉnh khinh: đầu óc trống không, (tư tưởng an nhiên, tự tại).
- Hàm hung bạt bối: co lưng thóp bụng.
- Trầm khiên thuỳ chẩu: trầm vai buông chỏ.
- Tùng eo hoạt uyển: eo hông tự nhiên.
- Khí trầm đan điền: khí xuống đan điền.
- Khinh do tích phát: buông lỏng toàn thân.

Phép cầm kiếm:

Tay cầm kiếm phải thong thả linh hoạt, không nên nắm chặt lấy cán kiếm, vì như thế làm cản trở kỹ thuật của kiếm chiêu. Chỉ cần dùng ngón cái, ngón giữa cùng ngón áp út của bàn tay để nắm lấy cán kiếm, còn ngón trỏ và ngón út nên thong thả, buông lỏng, lòng chưởng cũng để trống không như cầm bút lông vậy.

Kiếm thực là kiếm tập luyện, thi đấu, hay chiến đấu, tùy theo người tập luyện thuận tay nào mà kiếm thực được cầm ở tay phải hoặc tay trái. Kiếm chỉ hay còn gọi là kiếm pháp hay kiếm quyết, là tay không cầm kiếm, hình thức 2 ngón trỏ và ngón giữa áp sát nhau chỉ thẳng, ngón đeo nhẫn và ngón út gập xuống, ngón cái đè lên đầu ngón tay đeo nhẫn. Kiếm chỉ hoa theo đường nét, chiêu thức của kiếm thực, hỗ trợ sự cân bằng, linh động và nghệ thuật trong kiếm pháp.

Cũng có nhiều trường hợp, bài bản yêu cầu một tay cầm kiếm thực, tay còn lại thay vì là kiếm chỉ thì cầm bao kiếm, bao kiếm được làm bằng vật liệu gỗ hoặc kim loại có thể trợ chiến gạt đỡ, phòng thủ khi lâm trận.


Đạo dùng kiếm:

Kiếm là loại binh khí nghệ thuật, tài hoa, ngoài công dụng chiến đấu, còn có kiếm đạo mang tinh thần triết lý Đông phương cao cả, nhất là ý vị của Thiền tông. Đạo dùng kiếm là thiên biến vạn hóa, là bách kiếm hóa nhất, thiên kiếm hóa nhất, vạn kiếm hóa nhất. Nhất điểm phát vạn thù, vạn thù quy nhất điểm. Hiểu được bí quyết trong đó là có thể tự chủ, an nhiên nhàn hạ mà ứng biến.

Tuyệt nghệ trong kiếm pháp là vô chiêu thắng hữu chiêu, nhìn bề ngoài có vẻ như không có gì nhưng bên trong là tuyệt kỹ, bởi vì người và kiếm đã hòa cùng một thể. Đó cũng là điều mà Lão Tử đã dạy: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu. Dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp”.

Kiếm có thần kiếm, người giác ngộ dụng kiếm hòa cùng thần kiếm, chiêu thức kiếm ở trong ý kiếm, lúc ấy đánh đông trúng đông, đánh tây trúng tây, mặt trời, mặt trăng cùng xuất kiếm, cùng hợp nhất thành một chiêu. Đất Trời cùng hợp lại với nhau thành Một. Đến lúc ấy cũng không còn có ta và cũng không còn có kiếm.

Những câu chuyện kiếm đạo của Thiền:

1. Một người lính tên là Nobushige, mang kiếm đến hỏi Thiền sư Hakuin: “Thật có thiên đường và địa ngục không?”
Hakuin hỏi lại: “Anh là ai?”
Người lính đáp: “Tôi là một samurai”.
Hakuin kêu lên: “Hứ! Anh mà cũng là lính à, mặt anh trông không khác gì một tên ăn mày”.
Nobushige giận dữ, anh ta chuẩn bị rút kiếm nhưng Hakuin đã tiếp: “Anh mà cũng có kiếm à! Có lẽ kiếm của anh vô dụng không cắt nổi đầu của tôi đâu”.
Nobushige thực sự tuốt kiếm.
Hakuin nói: “Đây hãy mở cửa địa ngục đi!”
Nghe lời này, tâm Nobushige như tỉnh ngộ, nhận thức được sự chỉ giáo của Thiền sư Hakuin, cho kiếm vào vỏ và cúi đầu đảnh lễ.
Hakuin nói: “Đây hãy mở cửa thiên đường!”

2. Thời Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji Tenno) trị vì Nhật Bản (1867 - 1912), có đôi bạn thân, sau khi rời ghế nhà trường, mỗi người quyết tâm theo đuổi chí hướng của riêng mình.

Bakufu xuất gia tu học Phật trở thành Thiền sư, sống ẩn dật trong một sơn cốc xa xôi, hẻo lánh.

Yukichi theo nghiệp võ, ngày đêm chuyên cần luyện tập. Vốn tư chất thông minh, khả năng thiên bẩm cùng với lòng kiên trì quyết tâm rèn luyện và lại được thầy hết lòng chỉ dạy, nên chỉ một thời gian sau Yukichi đã vượt qua các cuộc tỉ thí trở thành đệ nhất kỳ nhân kiếm thuật không có đối thủ.

Tuy vậy, Yukichi vẫn cảm thấy trong lòng thiếu vắng một điều gì. Ông quyết định tiếp tục lên đường tìm thầy học đạo. Nghĩ đến người bạn cũ năm xưa, nay khoác áo Thiền sống trong sơn cốc, Yukichi đến thăm từ giã đồng thời bày tỏ ý nguyện của mình.

Sau khi mời trà, Bakufu nói với Yukichi không cần phải tìm thầy ở đâu xa, ông có quen một người có thể dạy cho Yukichi đạo dùng kiếm. Yukichi ngạc nhiên lẫn mừng rỡ xin được giới thiệu. Bakufu lấy tay chỉ vào ngực mình và nói rằng: “Người thầy ấy chính là tôi đây”.

Yukichi không tin, ngỡ rằng bạn mình đùa vui, vì từ thưở nhỏ đến giờ chưa bao giờ Bakufu dùng kiếm. Thế nhưng Bakufu như một kiếm sư thượng thừa đầy uy nghi và nghiêm khắc, lấy cây gậy thiền thay cho thanh kiếm, bảo Yukichi rút kiếm ra thi đấu. Yukichi rút kiếm nhưng không dám xuất chiêu sợ làm tổn thương bạn mình.

Bakufu nói với Yukichi rằng: “Nếu anh không xuất tuyệt chiêu thì sẽ không thấy được tuyệt kỹ đạo dùng kiếm của tôi”. Yukichi vung kiếm lên lần thứ nhất, chưa kịp định thần thì đầu gậy kiếm của Bakufu đã điểm ngay tim của ông. Tâm hồn bấn loạn, Yukichi xuất kiếm lần thứ hai, chưa hết một đường thì đầu gậy kiếm của Bakufu lại điểm trúng ngay tim của ông. Lần thứ ba cũng vậy, kiếm của Yukichi chưa kịp đâm tới thì đầu gậy kiếm của Bakufu đã lại điểm trúng ngay tim của ông. Yukichi buông kiếm, quỳ xuống xin học đạo với Bakufu.

Bakufu đỡ Yukichi đứng dậy ôn tồn nói rằng: “Khi đấu kiếm với anh, chung quanh tôi đất trời tan biến, cảnh vật tiêu tan, tôi chỉ thấy duy nhất có một trái tim của anh, nên tôi nhấc gậy kiếm đưa lên là điểm ngay đến đó”.

Từ đó, Yukichi giác ngộ, ngoài dứt chư duyên, trong không toan tính.

Đà Lạt, 6/2011
TVB

Tài liệu tham khảo:
- Nhiều tác giả, Quyền - Đao - Thương - Kiếm phổ (Hàng Thanh biên soạn), NXB Long An, 1990.
- Võ sư Trịnh Cần - Điền Vân Thanh, Sự thần kỳ của võ thuật, NXB Nhân dân Quảng Tây, 1993.
- Master Wong Kiew Kit, The Art of Shaolin Kung Fu (Classical Kung Fu weapons), Tuttle publishing 2001, USA.
- Thiền sư Muju, Shaseki-shu (Đỗ Đình Đồng dịch dưới tên “Góp nhặt cát đá”), NXB Lá Bối Saigon, 1972.
(Theo http://vocotruyen.vn)

1-4 of 4