Kiến thức võ thuật

Cung cấp cho các bạn thông tin mới nhất về võ thuật trong nước, nước ngoài.

Cập nhật thông tin võ thuật

  • Tâm sự của “Hùm xám Quảng Ngãi” Huỳnh Long Hổ: Sống lại đam mê Từ Quảng Ngãi vào TPHCM hôm thứ sáu để thưởng thức các trận đấu hấp dẫn của Giải võ cổ  truyền và boxing tranh cup Let’s Việt, võ sư Huỳnh Long Hổ chính là một trong những vị khán giả gắn bó với giải từ ngày đầu.Sát cánh cùng Giải đấu suốt chặng đường vừa qua không chỉ để cổ vũ cho Huỳnh Đỗ Long Bình – con trai của ông hiện nay đang là võ sĩ đầu quân cho Quân khu 7, mà võ sư Huỳnh Long Hổ mong được thấy lớp võ sĩ trẻ thể hiện tài năng của mình.Thỏa niềm đam mê võ thuật khi được chứng kiến các võ sĩ trẻ thể hiện võ ...
    Được đăng 10:03, 23 thg 11, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ  - Theo truyền thuyết, Thập bát La Hán trận là bảo pháp trấn sơn của Thiếu Lâm, trận pháp của 18 đại cao thủ. Sử sách mô tả: Khi di chuyển linh hoạt như nước chảy, khi đứng im vững vàng như núi, đầu cuối tương ứng, không chút sơ hở...Thập bát La Hán trận thực chất kỳ ảo đến đâu? Cho đến nay, chưa có tài liệu nào khẳng định được chính xác quá trình hình thành, cũng như các chiêu thức và quy luật bố trí trận pháp. Thậm chí, đối với việc định nghĩa, mỗi tài liệu lại có những lý giải khác nhau, đặc biệt không thể thống nhất việc Thập bát La Hán trận có ...
    Được đăng 08:30, 25 thg 9, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Con chim ưng của Thành Cát Tư Hãn Mờ sáng hôm ấy, Đại Hãn, vị hoàng đế vĩ đại và là chiến binh dũng cảm nhất thảo nguyên Mông Cổ, cùng những chiến tướng cận thần phóng ngựa vào rừng bắt đầu một chuyến đi săn mới. Khu rừng mọi hôm yên ắng, hôm nay bỗng rộn lên tiếng người cười nói, tiếng vó ngựa, tiếng chó sủa... Trên cổ tay Đại Hãn ngất nghểu con chim ưng mà ông rất mực yêu quí. Vào thời đó, chim ưng được huấn luyện để đi săn. Chỉ cần nghe hiệu lệnh của chủ nhân là con chim bay vút lên cao nhìn dáo dác xung quanh tìm kiếm con mồi. Nếu phát hiện thấy nai hoặc thỏ, nó ...
    Được đăng 19:27, 4 thg 9, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Khí công – Thực chất và huyền thoại Từ xưa, nhiều môn phái Võ thuật và các trường phái Đông y đều nhấn mạnh việc luyện Khí công là phương pháp chủ yếu để gìn giữ và tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những truyền thuyết về các khả năng gần như siêu việt của Khí công được nhiều người nói tới. Chẳng hạn như trong đoạn trích dẫn sau đây :“…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí ...
    Được đăng 20:32, 3 thg 9, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh UFC: Nơi võ thuật được tôn vinhUFC là giải đấu võ thuật lớn nhất thế giới hiện nay, quy tụ rất nhiều cao thủ,thu hút sự quan tâm của hàng triệuNHM.Như đã đề cập ở phần trước, vào đầu những năm 1990, thế giới đã đặt ra câu hỏi: môn võ nào là mạnh nhất. Và để trả lời, giải UFC đã ra đời. Có thể nói UFC đã mở ra một kỉ nguyên mới về tính thực chiến của võ thuật, chiến thắng quan trọng hơn là cách thắng.UFC được tổ chức tại Mỹ, giải UFC đầu tiên được tổ chức vào tháng 11/1993, lần hai vào 3/1994, lần ba vào 9/1994 ...
    Được đăng 19:30, 29 thg 7, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • MMA: Đỉnh cao của võ thuật MMA đang rất thịnh hành ngày nayMMA: Đỉnh cao của võ thuậtNói MMA là đỉnh cao là bởi nó tổng hợp tất cả những cái hay của các môn phái trên khắp thế giớiVới lợi thế thoả mãn cả hai ngành truyền thông và giải trí, môn Võ tổng hợp MMA ngày nay đã phát triển vượt vượt bậc và lan toả đi khắp thế giới. MMA cũng là môn thể thao đang phát triển nhất tại Mỹ và rất nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào đào tạo ở các trung tâm võ thuật.MMA là môn thể thao đối kháng toàn diện. Những kỹ thuật sử dụng được lấy cảm hứng từ những kỹ ...
    Được đăng 19:16, 29 thg 7, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Lược sử võ thuật Việt Nam – Phần 1 Người xưa đã có câu:Văn quan cầm bút an thiên hạ,Võ tướng đề đao định thái bình.Qua hai câu trên, chứng tỏ rằng người xưa chẳng những học văn mà còn chú trọng đến việc rèn luyện võ thuật để chống giặc, dẹp loạn, nhằm mang lại thanh bình cho xứ sở. Nhìn chung vào toàn bộ lịch sử tranh đấu của dân tộc Việt Nam, nền võ học Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng, trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Bởi vì, những vị anh hùng dân tộc, phần lớn đều xuất thân từ giới võ học, đã tiên phong mang tài thao lược võ dũng và võ trí ...
    Được đăng 06:47, 27 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Huyền thoại Cái Bang Lịch sử Cái Bang có thể nói là từ rất lâu đời, danh xưng “Thiên Hạ Đệ Nhất Bang” không phải tự nhiên mà có. Nhờ tinh thần quật cường và nhân số đông đảo, phái này luôn chiếm một vị trí đáng kể trong võ lâm Trung Nguyên. Danh tiếng trên Giang hồ của Cái Bang lừng lẫy hàng trăm năm, nhân tài Ngọa hổ tàng long, thời nào cũng có. Trong bốn bể Đông Tây Nam Bắc, nơi nào có ăn xin, nơi đó có Cái Bang. Những đệ tử trong bang thương yêu giúp đỡ nhau, chia sẻ mọi thứ, tạo nên một khối thống nhất luôn theo phò Chính nghĩa.Cái Bang là bang hội tập ...
    Được đăng 21:49, 19 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Cảm nhận về võ đức Võ đức là phẩm chất cao quý của người học võ, dạy võ; là hành trang không thể thiếu của người dụng võ. Cổ nhân dạy rằng: “Tập võ chi Đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học của khoa học, nghệ thuật, văn hoá truyền thống…Võ là khoa học, nghệ thuật vì ...
    Được đăng 02:52, 3 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Dạy võ là dạy đạo làm người Người có võ rất coi trọng lễ và giữ lễ. Trong thời đại giao lưu, hội nhập; khi các mối quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị truyền thống dễ bị lung lay, biến dạng, cả hoà tan; xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, là còn trọng lễ và giữ lễ.Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức).“Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định, nhất quán ...
    Được đăng 02:53, 3 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh
Hiển thị bài đăng 1 - 10trong tổng số 41. Xem nội dung khác »

Tâm sự của “Hùm xám Quảng Ngãi” Huỳnh Long Hổ: Sống lại đam mê

đăng 10:03, 23 thg 11, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Từ Quảng Ngãi vào TPHCM hôm thứ sáu để thưởng thức các trận đấu hấp dẫn của Giải võ cổ  truyền và boxing tranh cup Let’s Việt, võ sư Huỳnh Long Hổ chính là một trong những vị khán giả gắn bó với giải từ ngày đầu.


Sát cánh cùng Giải đấu suốt chặng đường vừa qua không chỉ để cổ vũ cho Huỳnh Đỗ Long Bình – con trai của ông hiện nay đang là võ sĩ đầu quân cho Quân khu 7, mà võ sư Huỳnh Long Hổ mong được thấy lớp võ sĩ trẻ thể hiện tài năng của mình.

Thỏa niềm đam mê võ thuật khi được chứng kiến các võ sĩ trẻ thể hiện võ đài, vị võ sư từng được mệnh danh là “Hùm xám Quảng Ngãi” không khỏi mừng thầm vì chất lượng của các tay đấm. Chứng kiến các trận đấu, làm những hồi ức về một thời tung hoành trên võ đài thủa của “Hùm xám Quảng Ngãi” như sống lại.

Theo võ sư Huỳnh Long Hổ, Giải đã quy tụ những võ sĩ mạnh trên toàn quốc là những tên tuổi ưu tú của 15 đơn vị khiến cho các trận đấu trở nên vô cùng kịch tính và lôi cuốn khán giả. Điều đó đó là động lực cho võ cổ truyền Việt Nam phát triển mạnh hơn và thực hiện khát vọng bay cao và bay xa hơn.

Hổ phụ sinh hổ tử – Huỳnh Đỗ Long Bình thi đấu khá hay tại Giải võ cổ truyền và boxing tranh cup Let’s Việt với các đòn đánh đẹp mà hiệu quả. Ngoài ra ông có nhiều đệ tử thành danh trong nghiệp võ như: Bùi Thanh Vĩ, Văn Thành, Phan Thị Thúy Ngà, Nguyễn Hữu Hoàng…

 Giang Lê ( Theo Tinthethao )

Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ

đăng 08:30, 25 thg 9, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh


 - Theo truyền thuyết, Thập bát La Hán trận là bảo pháp trấn sơn của Thiếu Lâm, trận pháp của 18 đại cao thủ. Sử sách mô tả: Khi di chuyển linh hoạt như nước chảy, khi đứng im vững vàng như núi, đầu cuối tương ứng, không chút sơ hở...


Thập bát La Hán trận thực chất kỳ ảo đến đâu? Cho đến nay, chưa có tài liệu nào khẳng định được chính xác quá trình hình thành, cũng như các chiêu thức và quy luật bố trí trận pháp. Thậm chí, đối với việc định nghĩa, mỗi tài liệu lại có những lý giải khác nhau, đặc biệt không thể thống nhất việc Thập bát La Hán trận có phải là trận pháp đặc thù của riêng Thập bát La Hán hay không?


Thập bát đồng nhân là ai?


Có lẽ gây ngờ vực và tranh luận nhiều nhất là mối quan hệ của Thập bát La Hán và Thập bát đồng nhân (18 người đồng).


18 người đồng của Thiếu Lâm danh chấn thiên hạ, nổi tiếng giang hồ, từ tiểu thuyết tới phim ảnh đều nhiều lần nhắc đến. Nhưng 18 người đồng thực chất là ai? Và Đồng nhân trận có liên quan gì với Thập bát La Hán trận?

 

Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ
 18 người đồng bí ẩn.

Có thuyết nói, để đề phòng đệ tử Thiếu Lâm khi công phu chưa luyện thành mà tự ý xuống núi, bị kẻ khác đánh bại làm ô danh Thiếu Lâm, các cao tăng đã đặt 18 người đồng trước cửa ra, đệ tử nào có thể đánh lui người đồng tức là công phu đã đạt tới mức thâm hậu. 


Khác với nhiều tự viện khác, ở Thiếu Lâm có 2 loại đệ tử: đệ tử xuất gia và đệ tử tục gia. Đệ tử xuất gia phải cạo đầu, suốt đời phải sống trong tự, giữ nghiêm giới luật, còn đệ tử tục gia là những người không cần cắt tóc, nhưng trong thời gian ở Thiếu Lâm cũng phải tuân theo quy định như các tăng sinh. 


Đệ tử tục gia xuất hiện vào cuối đời Đường, bắt nguồn từ câu chuyện 13 võ tăng cứu Đường Thái Tông, lập được công lớn. Để báo đáp, Lý Thế Dân ban thưởng hậu, và xuống chỉ cho Thiếu Lâm Tự chiêu nạp tăng binh, rèn quân luyện tướng cho cả nước. Người học võ trong thiên hạ vì vậy mà lũ lượt đổ về Thiếu Lâm, hình thành hai nhóm đệ tử như trên.


Đệ tử tục gia sau khi thành nghệ, trải qua hai thử thách ở Mộc nhân hạng (ngõ Người gỗ) và Thập bát La Hán trận thì được hạ sơn gây dựng sự nghiệp võ công riêng. Những đệ tử tục gia lừng danh nhất có thể kể đến là các anh hùng Nhạc Phi, Võ Tòng, tổ khai sơn môn phái Võ Đang Trương Tam Phong. Trong phim ảnh, nổi lên hình tượng người anh hùng thiếu niên Phương Thế Ngọc, cũng là một đệ tử tục gia (nhưng là đệ tử của Nam Thiếu Lâm Tuyền Châu, Phúc Kiến, chứ không phải Thiếu Lâm Tung Sơn).


Lại có tài liệu chép, Thiếu Lâm ở Trung nguyên là cây cao phải đón gió nhiều, luôn có khách giang hồ “thăm viếng”, đòi tỉ thí mua danh, trộm cắp bí kíp võ công… quấy nhiễu sự thanh tĩnh chốn này. Dù theo thuyết nào, 18 người đồng cũng chính là bức tường đồng bảo vệ sơn môn, khiến cho không chỉ người mà con ruồi cũng khó lọt qua, nhờ vậy mà uy danh của ngôi chùa trên đỉnh Thiếu Thất còn giữ được đến tận bây giờ. 


Cũng có thuyết khẳng định Thập bát đồng nhân trận chính là một trong những trận pháp lừng danh của Thiếu Lâm. Đệ tử Thiếu Lâm có thể rèn luyện với những trận đồ, qua được ải này coi như công phu đã lên đến hàng tuyệt kĩ. Bất kể với cách nói nào, điều khẳng định là: đánh thắng được 18 người đồng, chắc chắn sẽ được giang hồ coi là bậc đại anh hùng hảo hán!

 

Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ
Thành Long trong bản "Mộc nhân hạng" 1976.

Trong một số bộ phim về Thiếu Lâm, những người đồng này được xây dựng như là những bức tượng đồng thực sự. Những “người máy” vô tri sẵn sàng tấn công bất cứ ai lọt vào thế trận, và chỉ dừng lại khi trận được phá giải. Chưa từng có tình huống nào thể hiện nếu không vượt qua được đồng nhân trận, kẻ xấu số sẽ có kết cục ra sao giữa những cỗ máy kungfu này. 


Còn trong “Võ lâm ngũ bá”, Giả Kim Dung lại mô tả cảnh Vương Trùng Dương giao đấu trong La Hán điện với 18 La Hán là các mộc nhân (người gỗ) bên trong có đặt những máy móc tinh xảo, do Đạt Ma chế tạo để thử môn đồ. Người nào vượt qua La Hán trận của các mộc nhân này mới được hạ sơn. Như vậy, cuốn tiểu thuyết này đã gộp chung Mộc nhân hạng và Thập bát La Hán vào làm một. Nhưng những ai là fan của Thành Long hoặc xem qua bộ phim Mộc nhân hạng bản 1976 đều biết rằng, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau.

 

Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ
 "Tiểu La Hán trận"?

Một quan niệm khác, phổ biến hơn, cho rằng 18 người đồng là những đệ tử xuất sắc của Thiếu Lâm, và trận pháp mà họ thi triển, không gì khác chính là Thập bát La Hán trận. Không chỉ vượt qua đồng nhân trận, mà được đứng vào hàng ngũ “người đồng” ấy cũng là mơ ước và mục tiêu mà bất cứ đệ tử Thiếu Lâm nào cũng hướng tới. 


Có người còn nói 18 người đồng chính là Thập bát La Hán, 18 cao thủ của Đạt Ma viện. Về lý thuyết, đứng vào hàng ngũ Thập bát La Hán là thượng thừa công phu cá nhân, còn La Hán trận là nơi mà mỗi cá nhân đồng thời với phát huy sức mạnh cá nhân còn hỗ bổ cho nhau, tạo thành trận pháp uy lực nhất của võ phái, đem cái “nhất” của từng cá nhân để tập thành cái “nhất” của môn phái, không phải là không có khả năng.


Thập bát La Hán trận – trận pháp, chiêu thức hay tên gọi?

 

Lại thêm một vấn đề nữa đặt ra: vậy cái tên Thập bát La Hán trận bắt nguồn từ mô thức trận pháp, do những người tham gia trong đó hay chỉ đơn thuần là cách gọi? Chúng ta còn nhớ, trong Thiên Long bát bộ, Kim Dung có nhắc đến một trận pháp khác là La Hán đại trận, chỉ dùng đến khi cực kỳ nguy biến, như những lần đứng trước họa diệt môn. Lúc bày trận huy động tất cả đệ tử Thiếu Lâm, khí thế trùng trùng, trong ngoài tương ứng. Sử liệu không ghi chép gì hơn về trận pháp này, nhưng đặt ra một nghi vấn: với số môn đồ đông như vậy, liệu có thể khai triển một La Hán trận theo mô hình nào? 


Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ
 La Hán trận là trận pháp của các La Hán?
Các nhà viết tiểu thuyết thường tránh đi sâu vào mô tả chiêu thức của từng người, mà chỉ nói về trận pháp, mà cũng với những nét chung chung như tấn công từ 4 hướng, khiến đối phương hoa mắt, loạn chiêu, đến lúc đó 5 người bất thần từ trên đánh xuống, xuất quỷ nhập thần. Còn trong phim ảnh, La Hán trận được bày nhịp nhàng, đẹp mắt theo lối ngũ hành mai hoa, nhưng dường như mỗi chiêu thức đều đều tăm tắp, không thấy rõ đặc thù của mỗi người. Như vậy, cái tên “La Hán” có ý nghĩa trong những chiêu thức thực tế, hay là một cách đặt tên cho phù hợp với Phật môn?

Những câu hỏi đó không chỉ của riêng chúng ta, mà là của toàn võ lâm trong suốt chiều dài lịch sử, trước sơn môn nghiêm kín của ngôi cổ tự ngàn năm.


Cuộc “giải mật” đầy tranh cãi

 

Năm 2006, đã diễn ra một sự kiện chấn động giới võ học Trung Quốc. Dưới chủ ý của phương trượng Thích Vĩnh Tín và các vị chức sắc trong chùa, lần đầu tiên trong 1.500 năm lịch sử, Thiếu Lâm Tự đã trình diễn những võ công tuyệt môn của mình trước đông đảo báo giới và người hâm mộ đến từ hơn 70 quốc gia.

 

Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ
 

Những chiêu thức được trình diễn cũng chính là nghi thức xuất môn của 36 đệ tử được tuyển chọn sau 9 ngày đóng cửa luyện tập – những nghi thức vốn là cơ mật của Thiếu Lâm Tự trong quá khứ. Trong đó được trông đợi nhất chính là Thập bát La Hán trận – trận pháp ai nấy đều từng nghe danh mà chưa thấy mặt. 


Giải mã trận pháp Thiếu Lâm 1.500 năm uy trấn giang hồ
 
Trước hàng trăm ống kính máy quay, 18 đệ tử Thiếu Lâm trong tạo hình đồng nhân đã thi triển trận pháp tuyệt vời này, được những người chứng kiến mô tả là “mỗi người một chiêu thức riêng biệt, mạnh mẽ, hợp nhất trong một thế trận nhịp nhàng, nhuần nhuyễn nhưng linh hoạt, khó lường, tấn công từ tất cả các hướng, khiến đối phương như rơi vào mê hồn trận”. 

Nếu những gì được đem ra trình diễn là đúng với pháp chế tổ truyền của Thiếu Lâm, thì thế trận của thập bát đồng nhân chính là Thập bát La Hán trận, nhưng 18 người đồng chỉ là những đệ tử xuất sắc của Thiếu Lâm, chứ chưa phải là 18 La Hán của Đạt Ma viện như có người từng nói. Cũng có nghĩa, tên gọi “La Hán trận” chỉ hàm ý đặc thù trận pháp, chứ không mang nghĩa là đặc thù của người thi triển.

Những chiêu thức trình diễn có thể nói đã làm mãn nhãn người xem, nhưng không những chưa giải đáp được dấu hỏi về tính thực chiến của trận pháp này, mà còn gây ra một cuộc tranh cãi gay gắt. Và “giải mật” những bí kíp ngàn đời cũng chỉ là một phần trong hành trình “hiện đại hóa” đầy sóng gió của Thiếu Lâm Tự hôm nay…

Con chim ưng của Thành Cát Tư Hãn

đăng 19:27, 4 thg 9, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh


Mờ sáng hôm ấy, Đại Hãn, vị hoàng đế vĩ đại và là chiến binh dũng cảm nhất thảo nguyên Mông Cổ, cùng những chiến tướng cận thần phóng ngựa vào rừng bắt đầu một chuyến đi săn mới. Khu rừng mọi hôm yên ắng, hôm nay bỗng rộn lên tiếng người cười nói, tiếng vó ngựa, tiếng chó sủa...
Trên cổ tay Đại Hãn ngất nghểu con chim ưng mà ông rất mực yêu quí. Vào thời đó, chim ưng được huấn luyện để đi săn. Chỉ cần nghe hiệu lệnh của chủ nhân là con chim bay vút lên cao nhìn dáo dác xung quanh tìm kiếm con mồi. Nếu phát hiện thấy nai hoặc thỏ, nó sẽ lao xuống như tên bắn và vồ chặt chúng.

Mặt trời bắt đầu khuất dần sau các dãy núi nhưng Đại Hãn và đoàn tùy tùng vẫn chưa săn được nhiều con mồi như mong đợi. Nóng lòng, Đại Hãn thúc ngựa vượt lên phía trước tách khỏi đoàn. Ông đã quá quen thuộc với khu rừng này. Trong khi mọi người tiếp tục đi theo con đường cũ thì ông lại chọn con đường xa hơn, chạy xuyên qua thung lũng giữa hai dãy núi.

Sau nhiều giờ quần thảo trên ngựa dưới sức nóng của buổi chiều hè, hoàng đế bắt đầu cảm thấy khát nước. Con chim ưng vụt khỏi cổ tay ông và lao vút đi, ông tin là nó sẽ tìm được đường quay về. Chợt ông thấy có nước rỉ ra từ một ghềnh đá. Đại Hãn xuống ngựa, lấy từ trong túi săn một cái cốc nhỏ bằng bạc rồi bước đến hứng những giọt nước đang rỉ ra. Ông kiên nhẫn và biết rằng phải lâu lắm cốc nước mới đầy. Miệng ông khát đắng nên không kịp chờ nước đầy ly, ông vội đưa ngay lên miệng chuẩn bị uống. Bất thình lình, một âm thanh vút lên từ trên không và một vật xẹt ngang tay ông, chiếc ly rơi xuống đất. Thì ra đó là con chim ưng yêu quí của ông. Con chim ưng bay tới bay lui thêm vài lần rồi buông cánh đậu giữa các vách đá bên khe nước.

Đại Hãn nhặt chiếc ly lên và một lần nữa đưa vào hứng lại từng giọt. Lần này ông không đợi lâu hơn. Khi hứng được gần nửa ly, ông nâng ly lên miệng nhưng trước khi chiếc cốc chạm vào môi, con chim ưng lại bay vụt xuống và làm rớt ly nước khỏi tay ông.

Đại Hãn bắt đầu nổi giận. Ông tiếp tục lần nữa và lần thứ ba con chim ưng lại đánh đổ ly nước. Đại Hãn vô cùng giận dữ, hét lớn:

- Con vật khốn kiếp kia, sao ngươi dám làm như thế? Đừng để ta bắt được ngươi, không thì ta sẽ vặn cổ ngươi đó!

Và rồi ông hứng lại ly nước khác. Lần này trước khi đưa lên miệng uống, ông rút gươm cầm trên tay.

- Nào, đây là lần cuối cùng ta chịu đựng ngươi đó! - Đại Hãn nóng giận hét lên thành lời. Gần như ông vừa dứt hết câu, con chim lao nhanh xuống và hất mạnh ly nước. Giờ đây, nhà vua không tha thứ được nữa. Một lằn sáng vút lên và thanh gươm của ông chém trúng con chim. Con chim đáng thương nằm quằn quại và giẫy chết dưới chân chủ nhân nó. Không chút xót thương, Đại Hãn gằn giọng:

- Cái chết thật xứng đáng với tội láo xược của nhà ngươi.

Khi phát hiện chiếc ly bị rơi vào giữa hai tảng đá và ông không thể với lấy nó được, ông tự nhủ “Ta sẽ uống nước tại con suối”. Và ông bắt đầu leo lên sườn đá dốc, ngược theo dòng nước chảy để lần đến con suối. Khi đến nơi, con suối mà ông nghĩ thực ra chỉ là một vũng nước nhỏ, nhưng vật nằm trong đó đã làm nước trào hẳn ra ngoài. Và chính vật này khiến Đại Hãn hoảng sợ thật sự: một con rắn lớn, nổi tiếng là loài cực độc, đang nằm chết rữa giữa vũng nước.

Đại Hãn đứng khựng lại, quên cả cơn khát cháy cổ. Ông đau đớn khi nghĩ đến hành động vừa rồi của mình, cơn tức giận nhất thời đã khiến ông vung gươm giết chết con chim yêu quý - chỉ vì nó muốn cứu mạng ông. Kể từ đó, hình ảnh con chim ưng giẫy chết trong vũng máu luôn nhắc nhở ông đừng bao giờ hành động điều gì trong cơn tức giận.

via member Vượt Lên Số Phận

Khí công – Thực chất và huyền thoại

đăng 20:32, 3 thg 9, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh


Từ xưa, nhiều môn phái Võ thuật và các trường phái Đông y đều nhấn mạnh việc luyện Khí công là phương pháp chủ yếu để gìn giữ và tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những truyền thuyết về các khả năng gần như siêu việt của Khí công được nhiều người nói tới. Chẳng hạn như trong đoạn trích dẫn sau đây :

“…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí sắc đen lại từ huyệt Lao Cung của bàn tay trái phóng ra tựa như một luồng khói đen, khiến mọi người chứng kiến sửng sốt kinh ngạc và thán phục. “Mai hoa chưởng” của cụ lại càng tinh diệu hơn nữa. Một luồng khí sắc trắng như khói từ tay cụ phóng ra kèm theo âm thanh “vù vù”, khiến hơn 200 con người hâm mộ đứng xem lặng người kinh ngạc và sau đó hoan hô vang dậy…Cụ Lưu cười ha hả nói : “Các vị vất vả quá và đã có vẻ mệt nhọc lắm rồi, để tôi giúp các vị bổ khí một chút”. Nói rồi cụ cất bàn tay lên lần lượt hướng tới mồm của ba người phóng ba lần “Dược vương chưởng”. Ba người điều cảm thấy một luồng khí có khí vị rất đậm của Trung dược từ khoang miệng lan tỏa khắp thân thể. Sau đó liền cảm thấy toàn thân thư giãn nhẹ nhàng, tinh thần thư thái sảng khoái vô cùng…”(Khí công-các kỳ nhân đương đại, Thiên Tùng biên dịch, Nhà xuất bản Thể dục thể thao, Hà Nội, 1990, trang 6-7) là một trong nhiều câu chuyện kể về khả năng siêu việt của khí công gần như là huyền thoại ! Bởi trong thực tế vẫn chưa có những luận cứ khoa học nào giải thích một cách minh bạch và tường tận về các khả năng sử dụng Khí công như vậy. Thái độ của những con người đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI không nên vội phê phán về các huyền thoại khí công như vừa kể, mà hãy gác nó qua một bên, chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.

Thực chất về công năng của Khí công trong việc giữ gìn và tăng cường sức khỏe đã được khoa học chứng minh. Thật vậy, ngày nay, khoa học cho ta biết rõ cơ thể, và đặc biệt là các bắp thịt, trong lúc hoạt động rất cần khí Oxy và tiêu khử khí Carbonic. Oxy tiềm tàng trong không khí được hít vào phổi, rồi hòa tan vào huyết để được tải khắp cơ thể. Huyết cũng tải về phổi khí thán do các bộ phận khác tiết ra, để được thải ra ngoài lúc thở ra. Như vậy khí và huyết là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau, do đó hai quá trình vận khí và vận huyết cũng gắn chặt với nhau. Lưu thông khí huyết là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể.

Tùy theo ý muốn, chúng ta có thể vận dụng bộ máy hô hấp, vận dụng các bắp thịt để thở. Bắp thịt thở chủ yếu là hoành cách mạc. Vận động của nó bảo đảm 2/5 dung tích không khí ra vào. Hoành cách mạc nằm thành một cái vòm giữa ngực và bụng, phía trên là phổi và tim phía dưới là gan, dạ dày và ruột. Lúc hoành cách mạc co thắt để hạ xuống 2 đến 3cm, nếu tập nhiều có thể hạ xuống đến 10 hay 15cm. Lúc ấy, lồng ngực và phổi dãn ra, bụng phình lên vì gan, ruột bị đẩy xuống, không khí được hít vào. Hoành cách mạc trở về chỗ cũ, phổi bị ép lại, không khí được đẩy ra ngoài, lúc ấy ruột gan bị kéo lên và bụng thót lại. Như vậy, lúc hít vào thì bụng phình lên, và lúc thở ra, bụng thót lại. Bắp thịt bụng cũng giúp vào việc thở, đặt biệt là lúc thở ra, khi ấy hoành cách mạc đi lên, cơ bụng thắt lại, đẩy gan ruột lên, do đó thở ra được sâu hơn. Tóm lại, cần nhớ nguyên tắc : thót bụng thở ra, phình bụng hít vào.

Ngoài hoành cách và cơ bụng, giữa các xương sườn cũng có những cơ nối liền hai xương với nhau, phía trong và phía ngoài. Lúc các cơ liên sườn bên ngoài co thắt lại, xương sườn bị kéo ra, lồng ngực phồng lên, giúp cho không khí vào, và ngược lại, khi các cơ liên sườn bên trong kéo sườn vào thì lồng ngực thắt lại, không khí bị đẩy ra. Vì phía dưới của phổi rộng hơn phía chóp phổi, do các xương sườn trên rất cứng, gồm toàn xương từ trước ra sau, không như các xương sườn phía dưới, gồm một phần sụn ở phía trước, nên lồng nhực phía trên không co giãn được bao nhiêu. Những bắp thịt níu vào các xương sườn phía trên và xương đòn gánh, đóng góp vào việc đưa không khí ra vào không đáng kể. Thông thường khá nhiều người cứ lầm tưởng bắp thịt ngực, tức bắp thịt kéo từ cánh tay đến giữa ngực, là bắp thịt để thở, nên lúc tập thường đưa vai lên, kéo căn phần trên của ngực, trái với sinh lý tự nhiên.

Thở bụng, tức là vận dụng hoành cách mạc, cơ bụng, cơ liên sườn phía dưới, là cách thở có hiệu quả cao nhất. Rèn luyện các bắp thịt ấy cho thật nhuần nhuyễn, trong lúc thở nắm cho được mình đang vận dụng bắp thịt nào là công tác cơ bản của khí công. Nói một cách tổng quát, cần nắm vững những động tác sau đây :

Lúc thở ra, hoành cách mạc đưa lên, bụng thót lại, cơ liên sườn và các cơ bụng kéo sườn vào.

Lúc hít vào, hoành cách mạc hạ xuống, bụng phình lên cơ liên sườn kéo sườn ra.

Thở ra dài hơn hít vào và càng sâu càng tốt. Lúc hít vào xong, có thể giữ hơi lại một chút. Sách xưa thường nói rằng lúc hít vào, khí xuống đan điền, tức bụng dưới, thực ra vì hoành cách mạc đẩy ruột xuống nên bụng phình ra.

Bình thường lúc ngồi yên hay làm việc nhẹ, dung tích không khí ra vào chừng 0,5 lít, và người ta thở chừng 12 đến 16 lần trong một phút. Khi vận động, nhất là vận động nhanh như chạy đua, đấu võ, lưu lượng không khí ra vào có thể gấp 15 hay 20 lần. Lúc ấy dung tích không khí ra vào có thể lên tới từ 4 lít đến 6 lít, tần số thở cũng tăng lên gấp đôi hoặc hơn. Muốn tăng lưu lượng phải tăng chủ yếu khả năng hoạt động của hoành cách mạc lên, xuống thật nhiều và nhanh, nếu cần có thể cho không khí ra vào qua miệng, vì con đường này rộng hơn và ít khúc khủy hơn con đường qua mũi. Nhưng nếu ta không vận động nhiều, không cần lưu lượng không khí ra vào, thì cũng không nên đưa quá nhiều Oxy vào cơ thể, khử quá nhiều khí thán ra ngoài, vì như thế sẽ bị choáng váng. Lúc ngồi yên điều hòa nhịp thở cho thật đều đặn, nhẹ nhàng, dài và sâu, chủ yếu để điều hòa hoạt động của nội tạng và làm cho thần khinh thoải mái. Nhịp thở lúc ấy là một cho đến bốn lần trong một phút.

Tóm lại, có hai phương pháp luyện khí công :

Lúc vận động nhiều, thở sâu và nhanh, có thể cho không khí qua miệng để tăng cường lưu lượng không khí ra vào, cung cấp nhiều oxy và khử nhiều khí carbonic

Lúc vận động ít và không vận động, thì thở nhẹ, dài, sâu, rất chậm và toàn thể con người yên tĩnh điều hòa lại. Nếu hoàn cảnh cho phép, nhắm mắt lại tập trung ý nghĩ vào từng nhịp thở.

Có thể tập khí công trong tư thế nằm cũng được, đứng, nằm hay ngồi, miễn sao vận dụng được hoành cách mạc một cách dễ dàng. Kết hợp với động tác chân tay trong khi tập khí công cũng được. Khi rèn luyện xong rồi thì lúc vận động, nhịp thở và động tác chân tay sẽ tự nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau. Kỹ thuật của khí công đơn giản, tập vài lần sẽ quen, chủ yếu là đừng đưa vai lên xuống lúc thở, đừng cho vận động của lồng ngực tréo với vận động của hoành cách mạc, vì có khi ta cho lồng ngực căng lên để hút không khí vào, đồng thời lại thót bụng lại đẩy hoành cách mạc lên, tức đẩy không khí ra. Động tác của hoành cách mạc, cơ bụng và cơ liên sườn cần được phối hợp chặc chẽ. Trong lúc tập khí công điều hòa, cần chú ý làm chủ nhịp thở : thở thật đều là chủ yếu, không để nhịp thở rối loạn.

Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể, hầu tránh được những tật bệnh có thể phát sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt cho khí oxy vào cơ thể giúp các tế bào hoạt động tốt hơn cũng như đưa khí carbonic ra khỏi cơ thể tạo môi trường tốt đẹp cho toàn cơ thể. Được như vậy, sức khỏe chắc chắn tăng tiến, từ đó khả năng dụng võ cũng tiến bộ là lẽ đương nhiên, đúng như Hải Thượng Lãn Ông đã từng viết :

Tập cho khí huyết lưu thông
Tay chân lanh lợi, tinh thần thảnh thơi

UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh

đăng 19:30, 29 thg 7, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh

UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh


UFC là giải đấu võ thuật lớn nhất thế giới hiện nay, quy tụ rất nhiều cao thủ,thu hút sự quan tâm của hàng triệuNHM.

Như đã đề cập ở phần trước, vào đầu những năm 1990, thế giới đã đặt ra câu hỏi: môn võ nào là mạnh nhất. Và để trả lời, giải UFC đã ra đời. Có thể nói UFC đã mở ra một kỉ nguyên mới về tính thực chiến của võ thuật, chiến thắng quan trọng hơn là cách thắng.

UFC được tổ chức tại Mỹ, giải UFC đầu tiên được tổ chức vào tháng 11/1993, lần hai vào 3/1994, lần ba vào 9/1994, và từ đó trở đi cứ cách 3-4 tháng thì tổ chức một lần. Tuy nhiên, trong 8 năm trở lại đây, giải đấu này ngày càng trở nên được yêu thích trên khắp thế giới. Với nguồn lợi không nhỏ về thu nhập từ bán vé cũng như bản quyền truyền hình, các trận đấu của UFC diễn ra ngày một nhiều hơn, mỗi tháng đôi ba trận, và không chỉ gói gọn trong lãnh thổ nước Mỹ. Đôi khi địa điểm thi đấu được diễn ra ở Nhật Bản, Brazil, Australia, Canada, Macao... nhằm quảng bá thương hiệu và hình ảnh. Tính đến thời điểm này, giải đấu đã được tổ chức 220 lần.

UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

UFC ngày nay bớt man rợ hơn nhiều so với thời mới được khai sinh

UFC 1

Giải võ tự do lần đầu tiên (Ultimate Fight Championship 1) được tổ chức tại McNichols Sports Arena, Denver, Colorado, ngày 12 tháng 11, 1993.

Điều lệ thi đấu bao gồm:

- Không phân hạng cân.

- Không hạn chế thời gian. Thắng khi đối thủ nhận thua (đập tay 3 lần), bị đánh gục, hoặc HLV tung khăn trắng đầu hàng.

- Tuy tên là võ tự do, giải có các luật cấm: 1. dùng tay tấn công mắt đối thủ, 2. cắn đối thủ, 3. móc mũi, miệng, tai đối thủ. Ngoài ra thì thoải mái dùng tay, chân, kể cả đầu gối, cùi chỏ... để đánh.

8 đấu thủ tham dự giải đầu tiên này là các nhà vô địch thế giới ở các loại võ khác nhau: Sumo, Kickboxing, Boxing, Brazilian jujitsu, Savate, Karate, Taekwondo, Muay Thai.

Tứ kết:

Gerard Gordeau (savate) thắng Teila Tuli (sumo) ở giây thứ 30 bằng knock-out. Sau khi lao vào túm trượt Gordeau, Tuli - với trọng lượng khổng lồ 200kg - ngã xuống. Gordeau tránh sang một bên và tung một cú đá vào mặt Tuli, làm bay một răng cửa. Đòn tay tiếp theo của Gordeau hạ gục Tuli. Bác sỹ sau khi xem kỹ vết thương đã quyết định dừng trận đấu. Tuy thắng, tay của Gordeau cũng gần gãy lìa.

Kevin Rosier (kickboxing) thắng Zane Frazier (karate) bằng TKO vào 4 phút 18 giây. Hai đấu thủ cùng thuộc loại ra đòn tay, chân tấn công, và đứng trong hầu hết thời gian trận đấu. Sau khi dồn Frazier vào góc võ đài, Rosier đấm liên tục và giáng hai cú vào đầu Frazier trước khi HLV của Frazier tung khăn trắng xin hàng.

Royce Gracie (jujitsu) thắng Art Jimmerson (boxing) bằng việc ép đối thủ chịu thua ở 2 phút 18 giây. Gracie đã ra đòn tay và kéo ngã Jimmerson. Gracie đè trên Jimmerson mà không gặp chút kháng cự nào cho đến khi Jimmerson đập tay chịu thua.

Ken Shamrock (judo) thắng Patrick Smith (taekwondo, muay thai) bằng việc ép đối thủ chịu thua ở 1 phút 51 giây. Shamrock là đối thủ có nhiều kinh nghiệm vật tự do, anh đã tham gia thi đấu ở Nhật. Do có kỹ năng vật judo, Shamrock đã dễ dàng đẩy ngã Smith và thắng bằng đòn bẻ gót chân, làm Smith chịu không nổi phải nhận thua.

Bán kết:

Gerard Gordeau thắng Kevin Roiser bằng TKO lúc 1 phút 03. Gordeau ép Rosier vào góc võ đài và liên tục ra đòn tay và chân cho đến khi trọng tài thấy Rosier không có khả năng phòng thủ và ra lệnh dừng trận đấu.

Royce Gracie thắng Ken Shamrock bằng đòn đè gây ngạt thở ở giây thứ 57. Shamrock lúc đầu chiếm thế tốt hơn nhưng bị Gracie dùng kỹ thuật vật của Jujitsu phản công. Sau khi bị khoá Shamrock đập tay nhận thua, nhưng trọng tài không thấy. Trong khi đó Gracie thấy đối thủ đập tay nên nới lỏng đòn khoá. Sau khi đứng dậy, Shamrock nhận mình đã thua cuộc.

Chung kết giữa Gerard Gordeau và Royce Gracie

Gracie đoạt giải UFC đầu tiên của mình khi chiến thắng Gordeau sau 1 phút 41. Anh ra đòn khoá cổ gây ngạt thở và ép đối thủ đập tay nhận thua.

UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Khán đài luôn chật kín người xem

Thay đổi luật lệ

Luật lệ của các trận đấu MMA hiện đại đã thay đổi đáng kể từ những ngày đầu của môn Vale tudo, vật theo kiểu “shoot” của Nhật Bản và UFC 1, thậm chí xa hơn nữa, từ phong cách lịch sử Pankration.

Động cơ chính của các thay đổi là sự bảo vệ sức khỏe cho các võ sĩ, mong muốn bỏ quên bức tranh về các trận đấu “man rợ, không luật lệ, đánh đến chết”, và được nhìn nhận như một môn thể thao.

Luật lệ mới bao hàm sự đưa vào các hạng cân, sự khác hạng cân trở thành một nhân tố quan trọng.

Có 9 hạng cân khác nhau, gồm hạng ruồi (dưới 125lbs, 57 kg), hạng gà (126-135 lbs/ 61 kg), hạng lông (136-145 lbs/ 66 kg), hạng nhẹ (146-155 lbs/ 70 kg), hạng bán trung (156-170 lbs/ 77 kg), hạng trung (171-185 lbs/ 84 kg), hạng vừa (186-205 lbs/ 93 kg), hạng nặng (206-265 lbs/ 120 kg), và một số tổ chức thậm chí còng tiếp tục có thêm hạng siêu nặng với mức cân trên 120 kg.

Cách để thắng trong một cuộc đấu MMA

Knock Out (TKO): ngay khi đấu thủ bi bất tỉnh vì một cú đánh, đối thủ của anh ta lập tức đươc tuyên bố chiến thắng (trong luật của MMA cho phép nằm chiến đấu trên sàn, trận đấu chỉ dừng lại để ngăn chặn những tỗn thương hơn nữa cho người bị bất tỉnh ).

Submission (Hàng Phục) : võ sĩ có thể chấp nhận thua cuộc trong suốt trận đấu bằng cách:

- Vỗ 3 lần lên người đối thủ

- Vỗ 3 lần xuống sàn đấu để hàng phục (thường gọi là “tap out”)

- Nếu cả hai tay đều bị khóa thì có thể lên tiếng chịu thua (trường hợp này thường xảy ra khi cận chiến dưới sàn)

UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Đánh cùi chỏ không hề bị cấm trong UFC

Trọng tài dừng: trọng tài có thể cho tạm dừng trận đấu nếu một trong hai võ sĩ bị áp đảo cho đến nỗi bị dính đòn liên tiếp và không có khả năng tự vệ một cách bình thường (chuyện này có thể xảy ra trong một vài giây) và ngất xỉu khi bị khóa cổ dưới sàn đấu.

Một võ sĩ có dấu hiệu của chấn thương nghiêm trọng (như là gãy xương) trong quá trình thi đấu.

Bác sĩ dừng: trọng tài sẽ đòi hỏi dừng trận đấu nếu không biết được võ sĩ đó sẽ còn thi đấu được hay không trong tình trạng vết thương nghiêm trọng (như là vết rách lớn). Bác sĩ sẽ xem xét vết thương coi người đó có còn thi đấu an toàn được nữa hay không. Nếu không thì đối thủ của anh ta sẽ trở thành người thắng cuộc. Tuy nhiên, nếu như là vết thương này bị gây ra bởi một trong những điều cấm kỵ của luật MMA thì ban tổ chức sẽ đưa ra kết quả "No Contest" (Hòa) hoặc "Disqualification" (loại), tùy theo hành động chơi xấu trái luật kia là vô tình hay cố tình.

Ngưng trận đấu từ góc võ đài: ném khăn trắng để chịu thua (thường là để bảo vệ cho người võ sĩ kiên cường không tap out mặc dù sắp bị trọng thương nặng khi bị khóa chặt tay, chân).

Decision (Quyết định của ban giám khảo):

- Khi các hiệp chấm dứt mà chưa có kẻ thắng bại, số điểm của ba vị giám khảo cho từng hiệp sẽ được cộng lại, võ sĩ có tổng số điểm cao hơn là người thắng cuộc. Thành phần ban giám khảo là những tổ chức riêng biệt.

Forfeit (Đầu hàng): một bên tuyên bố đầu hàng trước khi trận đấu bắt đầu

Disqualification (loại): Mỗi khi vô tình phạm phải một lỗi trên võ đài hay cố tình không tuân theo hướng dẫn của trọng tài, người võ sĩ sẽ nhận một cảnh cao. Ba lần cảnh cáo sẽ dẫn đến kết quả loại. Tuy nhiên, khi một võ sĩ bị thương nặng và không thể tiếp tục trận đấu vì đối phương cố tình phạm luật, kẻ phạm luật sẽ bị loại.

No contest (hòa): trong trường hợp cả hai võ sĩ đều phạm những lỗi thô bạo hay không thể tiếp tục thi đấu vì những tai nạn gây ra do những kỹ thuật không hơp lệ cũa võ sĩ, trận đấu sẽ được tuyên bố hòa.

UFC: Nơi võ thuật được tôn vinh, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Lê Cung bắt đầu gây dựng tiếng tăm tại UFC

Phạm luật:

Sẽ là phạm luật khi các võ sĩ thực hiện các hành vi sau:

- Húc bằng đầu

- Chọc tay vào mắt đối thủ

- Cắn

- Nắm tóc

- Tấn công có chủ ý vào hạ bộ

- Đặt ngón tay vào miệng hoặc vào vết thương hở của đối thủ

- Tấn công mạnh vào xương sống, hoặc sau đầu

- Tấn công bằng chỏ từ phía sau

- Tấn công vào cổ họng, bóp cổ

- Cào, cấu

- Lên gối vào khu vực thận

- Quăng đói thủ ra khỏi võ đài

- Phun nhổ vào đối thủ

- Nắm tay vào hàng rào, hoặc dây đài

- Tấn công đối thủ, khi đối phương đang chịu sự nhắc nhở của trọng tài

- Tấn công đối thủ sau tiếng chuông kết thúc hiệp đấu

- Sử dụng từ ngữ lăng mạ đối thủ trong võ đài

                                                                                                                                  Tổng Hợp 24h.com.vn

MMA: Đỉnh cao của võ thuật

đăng 19:12, 29 thg 7, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh   [ đã cập nhật 19:16, 29 thg 7, 2013 ]


MMA: Đỉnh cao của võ thuật
MMA đang rất thịnh hành ngày nay

MMA: Đỉnh cao của võ thuật


Nói MMA là đỉnh cao là bởi nó tổng hợp tất cả những cái hay của các môn phái trên khắp thế giới

Với lợi thế thoả mãn cả hai ngành truyền thông và giải trí, môn Võ tổng hợp MMA ngày nay đã phát triển vượt vượt bậc và lan toả đi khắp thế giới. MMA cũng là môn thể thao đang phát triển nhất tại Mỹ và rất nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào đào tạo ở các trung tâm võ thuật.

MMA là môn thể thao đối kháng toàn diện. Những kỹ thuật sử dụng được lấy cảm hứng từ những kỹ thuật võ truyền thống hay phi truyền thống. Trong trận thi đấu, luật của môn này cho phép sử dụng cả đấm, đá, vật, miễn là sao giành thắng lợi.

MMA: Đỉnh cao của võ thuật, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Trong thập niên 1990, các trận đấu sử dụng môn võ tổng hợp MMA diễn ra không phân hạng cân, không giới hạn thời gian. Trận đấu chỉ kết thúc khi có một người không thể đứng dậy nổi, thậm chí là chết. 

Mục đích MMA ra đời là để tìm ra một loại võ thuật với kỹ năng chiến đấu hoàn hảo nhất. Chính bởi vậy, bạn có thể thấy những võ sĩ xuất thân từ môn đấu vật, quyền anh, Muay Thai, Judo hay nhu thuật của người Brazil. MMA lấy những đòn mạnh nhất của từng môn võ, hai từ “đỉnh cao” xuất phát từ lý do này.

Tim Sylvia, cựu vô địch UFC hạng nặng từng nói: “Tập luyện MMA là điều khó khăn nhất mà tôi từng thực hiện trong cuộc sống. Hay như võ sĩ UFC hạng bán nặng, Chuck Liddell khẳng định: “Tập luyện MMA nghiêm ngặt hơn bất kỳ môn võ nào.”

Lịch sử cổ đại

Thật ra, MMA cũng không phải là bộ môn mới, nó được hình thành từ trước Công nguyên tại Hy Lạp trong bộ môn Pankration, được giới chuyên gia khẳng định là nguồn gốc của mọi môn võ trên thế giới.

Đến kỳ Olympic lần thứ 18 vào năm 708 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã chán với việc chỉ có một môn thi đấu duy nhất là chạy. Vì vậy, đấu vật đã được thêm vào trong danh sách môn thi đấu.

MMA: Đỉnh cao của võ thuật, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Môn Pankration của Hy Lạp cổ đại có nét hao hao giống các đòn thế ngày nay

Tuy nhiên, luật thi đấu trong môn đấu vật thời đó chẳng hơn luật chơi của trẻ con thời nay là mấy. Trọng tài có quyền phạt người phạm luật bằng cách dùng roi quất vào người đó cho tới khi anh này ngừng hành vi không đẹp của mình.

Tiếp sau môn đấu vật là môn pygme, hay pygmachia (môn quyền anh của người Hy Lạp cổ đại). Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng môn quyền anh xuất phát tại Sparta. Người Sparta vốn rất hung bạo. Theo họ, mũ bảo vệ trong thi đấu là không cần thiết và sẵn sàng đấm thẳng vào mặt nhau.

Trong các kỳ Olympic cổ đại, không có khái niệm thi đấu quyền anh theo hiệp. Các võ sĩ đấu với nhau cho đến khi phân thắng bại bằng cú hạ knock-out. Nếu trận đấu kéo dài quá lâu, họ sẽ thay phiên đấm vào đầu đối thủ cho đến khi một trong hai người lăn ra bất tỉnh.

Hình thức thi đấu đầu tiên của võ tỗng hợp được tổ chức bởi người Hy Lạp cổ và nó được gọi là Pankration. Pankration được giới thiệu lần đầu tiên trong thế vận hội Olympic Hy Lạp vào năm 648 trước Công nguyên và nó được pha trộn giữa đấu vật và quyền anh, cũng như kết hợp giữa tấn công trực diện và chiến đấu dưới sàn đấu. Pankration từng làm lính thiện chiến của La Mã phải e sợ khi đối đầu với chiến binh Hy Lạp. Suốt nhiều thế kỷ, môn võ cổ xưa này là môn thể thao mở màn cho bất kỳ lễ hội dân gian nào ở Hy Lạp (sau khi người La Mã chinh phục Hy Lạp. Họ coi Olympic là một lễ hội ngoại đạo. Vì vậy, vào năm 393 sau Công nguyên, Hoàng đế La Mã, Theodosius I cấm không cho hoạt động thi đấu thể thao Olympic diễn ra. Mục đích của ông vua này là muốn đưa Thiên chúa giáo thành quốc giáo. Olympic bị cấm mãi cho đến năm 1896 mới được khôi phục lại. Như vậy, Olympics đã hồi sinh sau 1503 năm).

Pankration sau đó truyền cảm hứng cho những môn bạo lực hơn là Etruscan và Roman pancratium, một sự kiện đã được trình diễn ở đấu trường Coloseum Roman. Thậm chí đến tận thời Early Middle Ages (một giai đoạn trong lịch sử châu Âu tiếp sau sự sụp đổ của đế chế Tây Roman, kéo dài khoảng 5 thế kỷ từ năm 500 tới 1000 sau Công guyên), các bức tượng được đem trình diện tại Rome và các thành phố khác để tôn kính vinh quang của các Pankratiast thành Rome.

Cái tên Pankration là sự kết hợp của hai từ trong tiếng Hy Lạp, Pan có nghĩa là tất cả, Kratos có nghĩa là quyền hạn.

Chỉ có 2 luật lệ cần phải tuân thủ trong khi thi đấu môn Pankration, đó là không đánh bầm mắt đối thủ và không cắn nhau. Trọng tài cũng xử bằng roi đối với người phạm luật giống như trong môn quyền anh cổ. Việc xiết cổ dẫn đến ngạt thở, đánh nhau gãy ngón tay, gãy cổ được coi là không phạm luật. Chẳng có phân hạng theo cân nặng cũng chẳng có thời gian giới hạn thi đấu. Các võ sĩ cứ đánh nhau cho đến khi đối thủ đầu hàng, bất tỉnh hay chết.

Pankration có 2 thể loại: Ano (quyền cước) và Kato (vật). Ano gồm Pygmys (thủ pháp), Laktisma (cước pháp), Aponigmes (đòn khóa cổ). Đòn tay Pankration chỉ ba cú đấm thẳng (Direct), móc vòng (Crochet) và đấm xốc (upper cut) như quyền Anh. Đòn chân đơn giản với cú đá thẳng ra trước, đá vòng cầu và đá quét chân. Ano Pankration chỉ thực sự nguy hiểm ở những đòn chỏ và gối. Nếu những thế khóa cổ hiểm hóc, khống chế cực kỳ hiệu quả thì những cú đánh chỏ, lên gối knock-out địch thủ, kết thúc trận đấu nhanh chóng. Ở cự ly gần, Kato Pankration càng lợi hại. Kỹ thuật Kato chuyên sử dụng những đòn thế vật, cầm nã, quăng ném (rassin apaly). Đòn vật của Kato có nét gần gũi với vật cổ điển phương Tây. Khi Ano bị vô hiệu hóa, Kato làm đối phương thúc thủ bằng thế khóa, vật ngã… Pankratiast đã nổi tiếng với các kỹ năng vật lộn của họ, và họ sử dụng thường xuyên nhiều kỹ thuật vật lộn, bẻ tay, siết cổ, khóa khớp… để đạt hiệu quả chiến thắng nhanh nhất.

Alexander Đại Đế đã phát hiện ra Pankratiast là chiến sĩ ưu tú bậc nhất vì những kỹ năng huyền thoại của họ sử dụng chiến đấu tay không tại các kì Olympic. Khi xâm chiếm Ấn Độ năm 326 trước Công nguyên, ông đã tuyển mộ một số lượng lớn Pankratiast phục vụ trong quân đội. (Alexandros III của Macedonia, được biết rộng rãi với cái tên Alexander Đại đế, là Quốc vương thứ 14 của nhà Argead ở Vương quốc Macedonia (336 – 323 TCN) và được xem là một trong những vị tư lệnh thành công nhất trong lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước khi qua đời. Ông thường được xem là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử).

Đây chính là nguồn gốc và sự khởi đầu cho võ thuật châu Á. Từ Ấn Độ , võ thuật được truyền tới Trung Hoa và lan toả ra các nước xung quanh.

Lịch sử hiện đại

Ở Mỹ, cuộc chạm trán trọng đại đầu tiên giữa một võ sĩ quyền Anh và một đô vật diễn ra năm 1887 khi John L. Sullivan, lúc ấy là quán quân quyền Anh thế giới hạng nặng, vào sới đấu với huấn luyện viên của anh ta William Muldoon, vô địch vật Greco-Roman. Kết quả, Sullivan bị ném phịch xuống sàn thi đấu chỉ chưa đầy hai phút.

MMA: Đỉnh cao của võ thuật, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Kỹ thuật vật được sử dụng khá nhiều trong môn võ MMA

Cuộc chạm trán công khai thứ hai xảy ra cuối thập niên 1890, khi quán quân quyền Anh hạng nặng, Bob Fitzsimmons nhận lời thách đấu của quán quân vật Greco-Roman, Ernest Roeber. Theo ghi chép, Roeber bị gãy xương gò má trong lần đó, nhưng đã ném được Fitzsimmons xuống sàn, nơi anh ta dùng đòn khóa cánh tay và bắt võ sĩ quyền Anh phải quy phục.

Ở châu Âu, vào khoảng thế kỷ 19, đô vật người Ý, Giovanni Raicevich, với kỹ thuật vật Greco-Roman đã đánh bại Akitaro Ono, một võ sĩ hạng nặng người Nhật tinh thông Jujitsu (Nhu thuật), Judo và Sumo. Raicevich vật Ono xuống thảm bằng đòn vác lên vai quăng bằng một tay.

Các trận đấu với phong cách hỗn hợp như quyền Anh đấu Jujitsu đã trở thành hình thức giải trí phổ cập khắp châu Âu, Nhật Bản và các nước ven Thái Bình Dương suốt những năm đầu thập niên 1900. Ở Nhật, các trận đấu này cũng được biết đến với tên Merikan, từ tiếng lóng Nhật có nghĩa "đánh kiểu Mỹ”. Các trận đấu Merikan với nhiều luật lệ bao gồm điểm phân xử và chiến thắng qua cú hạ đo ván hoặc sự quy phục (chịu thua).

Vào cuối thập niên 1960 và đầu 1970, khái niệm về kết hợp các yếu tố thuộc nhiều loại võ đã được phổ biến ở Mỹ bởi Lý Tiểu Long thông qua phương pháp và triết lý của Triệt Quyền Đạo. Bruce Lee tin rằng “võ sĩ giỏi nhất không phải một người chơi quyền Anh, Karate hay Judo. Người giỏi nhất là người có thể thích nghi với mọi cách thức.”

Lịch sử của thi đấu MMA hiện đại có thể tìm thấy trong các trận đấu với phong cách hỗn hợp ở khắp châu Âu, Nhật Bản và các quốc gia ven Thái Bình Dương trong suốt những năm đầu thập niên 1900 .Tại Nhật Bản những năm 1970, một loạt các trận đấu võ tổng hợp (được gọi là Kangkutougi ) được tổ chức bởi Antonio Inoki, cựu ngôi sao của môn vật chuyên nghiệp Nhật Bản. Nó thúc đẩy phong trào shoot-style (phong cách chiến đấu thực sự) trong vật chuyên nghiệp Nhật Bản, cuối cùng đưa đến sự thành lập các tổ chức võ tổng hợp đầu tiên, như Shooto thành lập năm 1985…

Cũng trong thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, người ta đã tổ chức các cuộc tỷ thí giữa Kungfu Trung Quốc và Muay Thai. Trước các kết quả thảm bại đó, dưới sự trợ giúp của chính phủ, Trung Quốc cũng đã bắt đầu cải tiến đơn giản hoá và nâng cao tính hiệu quả cho võ thuật của mình, điển hình là sự ra đời của SanShou, tức Tán thủ.

MMA: Đỉnh cao của võ thuật, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Chỉ vì thua đau đớn Muay Thai, Trung Quốc mới sáng tạo ra môn Tán thủ, sự kết hợp giữa kungfu và vật

Thập niên 1990, với quá nhiều môn võ, thế giới bắt đầu đặt ra câu hỏi: môn võ nào là mạnh nhất. Và để trả lời, giải UFC được thành lập và tổ chức lần đầu tiên. Lúc này khái niệm MMA còn khá mơ hồ với mọi người, vì chưa từng có giải đấu nào có quy mô chính thức giữa các môn võ với nhau. Có thể nói UFC đã mở ra một kỷ nguyên mới về tính thực chiến của võ thuật, chiến thắng quan trọng hơn là cách thắng.

1993, Gracie đã có một tác động mạnh vào sự bùng nổ đương thời của võ tổng hợp với việc sáng tạo ra giải Vô địch Võ thuật đỉnh cao “Ultimate Fighting Championship” (UFC). UFC được tạo ra dựa trên khái niệm Vale Tudo của người Brazil với một vài sự kiện đầu tiên với biểu ngữ “no–hold-barred”, nôm na là không có luật lệ gì cả.

MMA: Đỉnh cao của võ thuật, Thể thao, mma, lich su mma, vo thuat, boxing, muay thai, vat, ufc, judo, nhu thuat, jujitsu, tan thu, kung fu, lich su vo thuat, the thao, the thao 24h, tin the thao

Các trận đấu thuộc giải UFC ngày nay

Tổng hợp 24h.com.vn

Lược sử võ thuật Việt Nam – Phần 1

đăng 06:45, 27 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh   [ đã cập nhật 06:47, 27 thg 6, 2013 ]

Người xưa đã có câu:

Văn quan cầm bút an thiên hạ,
Võ tướng đề đao định thái bình.

Qua hai câu trên, chứng tỏ rằng người xưa chẳng những học văn mà còn chú trọng đến việc rèn luyện võ thuật để chống giặc, dẹp loạn, nhằm mang lại thanh bình cho xứ sở. Nhìn chung vào toàn bộ lịch sử tranh đấu của dân tộc Việt Nam, nền võ học Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng, trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Bởi vì, những vị anh hùng dân tộc, phần lớn đều xuất thân từ giới võ học, đã tiên phong mang tài thao lược võ dũng và võ trí để góp công vào cuộc lập quốc và kiến quốc. Do đó, để tìm hiểu lịch sử võ học Việt Nam, chúng tôi xin được căn cứ trên bối cảnh lịch sử và thứ tự thời gian, trong bộ “Việt Nam sử lược”, của học giả Trần Trọng Kim làm căn bản, để phân chia lịch sử võ học Việt Nam ra làm bốn thời kỳ chính yếu như sau: Thời thượng cổ, thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ độc lập tự chủ , và thời kỳ cận đại.


I. THỜI THƯỢNG CỔ (2879 – 110 TRƯỚC CN)

Căn cứ vào lịch sử tiến hóa của nhân loại, võ học đã có một nguồn gốc sâu xa trong quá khứ, từ khi con người còn sống trong các hang động, chỉ biết ăn sống thịt thú rừng, cây cỏ, và sự sinh hoạt còn quá phôi thai, rời rạc.Đó là thời tiền sử, theo các nhà khảo cổ học, thời tiền sử được chia ra làm bốn thời kỳ chính: Thời cựu thạch (thời đá đẽo), thời trung thạch (thời đá mài), và thời kim khí.

Trong thời cựu thạch (đá đẽo), khởi đầu vì bản năng sinh tồn, trong cảnh sống chống chọi với thiên nhiên, mà con người đã biết vận dụng sức mạnh lao động của thể xác để tự vệ và tranh đấu với các loại vật sống chung quanh mình. Từ đó, các động tác và các dụng cụ thô sơ dùng làm khí giới, để chiến đấu của thời khai nguyên đã được chớm nở. Mặc dù, trong thời tiền sử con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại những biến cố xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, nhưng các nhà khảo cổ cũng đã tìm hiểu được sự sinh hoạt của nhân loại vào thời xa xưa qua những di tích còn để lại.

Riêng tại Việt Nam, những di tích thuộc vào thời cựu thạch (đá đẽo) như các món binh khí: búa, rìu, dao, nạo, dùi, cào,… làm bằng loại đá đẽo đã được các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy tại các vùng đất Thanh hóa, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, thuộc miền Bắc Việt Nam. Ở hang Thượng Phú thuộc miền Trung Việt Nam, nhà khảo cổ M. Colani đã tìm thấy được những hình ảnh khắc vẽ trên vách đá, giống như một người thợ săn tay đang cầm cây lao để nhắm hướng lên một con chim đang bay lượn trên không trung, trong khi ở bên dưới là hình ảnh của những chiếc đầu có sừng. Ngoài ra, xuyên qua những bức tranh họa trên da thú rừng hoặc được khắc trên những phiến đá được lưu trữ tại các viện bảo tàng Việt Nam, chúng ta còn nhận thấy được hình ảnh của những chiếc thạch côn trong thời đại đá đẽo. Với những di tích vừa kể trên cũng đã nói lên được một phần nào sự liên quan đến khoa chiến đấu của tổ tiên Việt Nam trong thời đó.

Đến thời đại trung thạch (đá mài) con người vẫn nhờ vào võ công của mình để làm phương tiện mưu sinh căn bản cho cá nhân và gia đình, rồi dần dần với đà tiến bộ biết cách trồng trọt, nuôi , con người đã tạo được sự bảo đảm về mặt thực phẩm, rồi sự sinh sản gia tăng, con người mới bắt đầu sống định cư, thành tập đoàn dưới hình thức bộ lạc. Theo quan điểm của các nhà khảo cổ học đã ghi nhận, đây là thời kỳ tân thạch, con người bắt đầu biết sống tập đoàn và có chút ít sống văn minh, tiến bộ lần tới thời đại kim khí.

Theo các sử gia và các nhà khảo cổ học Việt Nam, vào đời vua Hùng Vương chính là thời đại kim khí cực thịnh, tổ tiên người Lạc Việt đạt được một sự tiến bộ lớn lao về phương diện kỹ thuật và mỹ thuật. Tổ tiên Việt Nam đã tìm được các quặng mỏ đồng, sắt, … và biết cách áp dụng phươngpháp luyện kim (những kỹ thuật pha chế thành hợp kim) để sản xuất ra các dụng cụ và binh khí sắt bén như: rìu đồng, trống đồng, đồng côn, thiết côn, dao, búa, cào bằng sắt cho các vị Lạc tướng và binh sĩ dùng để đánh giặc.

Trong những di tích đào được ở các vùng đất núi Việt Nam, người ta nhận thấy có những món binh khí bằng kim loại rất là mỹ thuật như rìu đồng và trống đồng.

Rìu đồng là một dụng cụ để chặt chém, và cũng là một loại binh khí dùng để đánh giặc. Trên những rìu đồng này, phần lớn đều được trạm trổ hình kỷ hà, hoặc là những hình ảnh sinh hoạt của con người thời đó. Những hình vẽ thường là hình ảnh bơi thuyền, nhảy múa, săn bắn , và những động tác đấu võ.

Trống đồng là một loại nhạc cụ dùng để tạo ra những âm thanh hòa tấu trong những buổi lễ, đặc biệt trong thời vua Hùng Vương đã biết dùng trống đồng làm một loại binh khí bằng âm thanh, để khích động tinh thần tướng sĩ, cũng như ra hiệu lệnh cho binh sĩ trong lúc đánh nhau. Loại trống đồng này đã được tìm thấy rất nhiều tại các vùng đất thuộc các tỉnh miền Bắc Việt Nam như Thanh Hóa, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nam, Hà Nội, Hòa Bình, Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An… Trên mặt trống đồng có trạm vẽ hình ảnh và sự sinh hoạt của thời đó rất là đẹp đẽ. Điều này đã chứng tỏ được tinh thần mỹ thuật của tổ tiên Việt Nam đã bước tiến rất cao xa.

Một di tích khác mà hiện nay còn lưu lại tại tỉnh Phúc Yên (Bắc Việt) đó là thành Cổ Loa, với kiến trúc cổ kính đầy tính cách quân sự, vòng thành xoắn theo hình trôn ốc, với sự bố trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, chống giặc từ bên ngoài. ây cũng là một di tích đã nói lên được một khoa võ học quân sự có tổ chức trong triều đại An Dương Vương (257 – 207 trước CN), với năm mươi năm làm vua, sau khi Thục Phán đã đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 để đổi tiên nước từ Văn Lang thành nước Âu Lạc.

II. THỜI KỲ BẮC THUỘC (207 TRƯỚC CN ĐẾN 939 SAU CN)

Sau khi đánh bại được vua An Dương Vương, Triệu Đà là một vị quan úy ở quận Nam Hải liền sát nhập Nam Hải vào nước Âu Lạc lập thành một nước tự chủ, đặt tên là Nam Việt, làm vua được năm đời. Đến năm 111 trước CN, nhà Hán bên Trung Hoa đánh chiếm nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ Bộ (Giao Châu) đặt quan cai trị như các châu quận của nước Trung Hoa.

Vào năm 40 sau CN, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị người huyện Yên Lăng, tỉnh Phúc Yên, đầu tiên cầm gươm cưỡi bạch tượng, điều khiển nghĩa quân đánh đuổi quan quân Thái Thú Tô Định, và chiếm được sáu mươi lăm thành trì, rồi hai bà lên làm vua dành quyền độc lập, giải phóng nước nhà ra khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa được ba năm. Sự kiện này đã viết lên được một trang võ sử oai hùng cho dân tộc Việt Nam nói chung, và cho nữ giới Việt Nam nói riêng.

Mãi đến năm 248 sau CN, noi gương hai bà Trưng, bà Triệu Ẩu, người huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa cỡi bạch tượng mặc áo giáp vàng, cùng với một ngàn nghĩa quân đứng lên chống với quân Thái Thú Lục Dận, cầm cự một thời gian ngắn, quân của bà chống cự không lại, bà đành tự tử.

Đây là một điểm son thứ hai cho nữ giới trong lịch sử Việt Nam.

Năm 542, Lý Bôn, một vị anh hùng dân tộc đã đứng lên đánh đuổi quân Trung Hoa để làm vua, dựng nên nghiệp nhà Tiền Lý. Đến năm 602, Lý Phật Tử thuộc hậu Lý Nam Đế vì thế yếu nên xin hàng phục vua nhà Tùy. Kể từ đó, Giao Châu lại lệ thuộc nước Trung Hoa lần thứ ba. Mãi cho đến năm 939 sau CN, người Việt mới dành lại được quyền tự chủ.

Vào thế kỷ thứ hai, song song với việc du nhập các tôn giáo Phật, Khổng, Lão và Việt Nam, ngành võ học từ Ấn Độ và Trung Hoa cũng được các vị thiền sư, đạo sĩ mang đến qua hai con đường thủy và đường bộ do hai cách được ghi nhận như sau:

Do các đạo sĩ Trung Hoa sang đất Giao Châu (Bắc Việt Nam) để lánh nạn vì năm 189 sau CN, sau khi vua Hán Linh đế mất, nước Trung Hoa có nhiều loạn lạc. Nhân cơ hội này các vị đạo sĩ đã giới thiệu đạo Khổng và Lão cũng như các phương pháp thể dục dưỡng sinh, thổ nạp chân khí (tức là cách luyện khí). Trong số đó có ngài Mâu Bác (Meou-Po) rất tinh thông tam giáo, về sau ngài phát tâm theo Phật giáo.

Do các vị thiền sư Ấn Độ sang đất Giao Châu (Bắc Việt Nam) để truyền báo đạo Phật, hoặc có một số ghé ngang qua Giao Châu, trước khi sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ ba. Trong số các vị thiền sư Ấn Độ được ghi nhận như Chí Cương Lương (Tche-Kiang Leang), Khương Tăng Hội (K’ang Seng Houei), Ma Ha Kỳ Vực (Marjivaka ha La Jivaka)…

Vào năm 247, vua Ngô Tôn Quyền thấy ngài Khương Tăng Hội thi triển nhiều phép lạ đem lòng tín phục và xây chùa ở thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) để ngài tu trì và giảng dạy Phật học. Trong sách “Cao Tăng Truyện” có ghi: “Ông Ma Ha Kỳ Vực gốc ở Ấn Độ, đi du lịch các nước, đến Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (bắc Việt và Quảng Đông bây giờ), đến nơi nào ngài cũng làm phép lạ. Khi đến Tương Dương, ngài muốn qua đò nhưng người lái đò thấy ngài quần áo rách rưới không cho xuống. Nhưng đến khi đò ngang cập bến, mọi người đều lấy làm lạ vì thấy ngài đã ở bên này sông rồi.” Vào thời kỳ này, mặc dù võ học đã được mang đến do các vị thiền sư, đạo sĩ nhưng vẫn chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian.

Mãi đến năm 580, vị thiền sư Tì Ni a Lưu Chi (Vinitaruci) từ Tây Trúc đã chính thức mang đến Việt Nam ngành đạo thiền tông đầu tiên ở nước Việt Nam, tại chùa Pháp Vân (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), truyền được 19 đời (580 – 1216). Năm 820, vị sư Trung Hoa là ngài Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh) lập nên thiền phái thứ hai, truyền được 14 đời (820 – 1221).

Kể từ đó, các môn võ lâm cổ truyền từ Ấn Độ cũng như các môn Thiếu Lâm Nam và Bắc phái của ngài Bồ Đề Lạt Ma từ Trung Hoa bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam.

 III. THỜI KỲ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ (939-1802 SAU CN)

Năm 939, sau khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng, đánh đuổi được quân Nam Hán và giết được Thái Tử Hoằng Thao, Ngô Quyền đã thật sự giải phóng cho dân Việt khỏi ách ngàn năm đô hộ của người Trung Hoa, và cũng mở đường cho các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn về sau được tự chủ ở phương Nam.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, lên ngôi vua đạt lại quốc hiệu là Đại Cồ Việt, ngài lo việc tổ chức binh bị và chỉ thị cho binh sĩ tập trận đánh Trường Tiên, mà sau này dân Việt gọi là Trung Bình Tiên hay roi Quang Trường, để áp dụng vào việc chống giặc, giữ gìn bờ cõi. Về binh đội, ngài phân chia ra làm Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũ. Mỗi Đạo quân có 10 Quân, mỗi Quân có 10 Lữ, mỗi Lữ có 10 Tốt, mỗi Tốt có 10 Ngũ, mỗi Ngũ có 10 người.

Năm 980, vua Lê Đại Hành nhờ vào việc tổ chức binh bị hùng mạnh của nhà Đinh để lại mà đã tạo được nhiều chiến công hiển hách trong việc dẹp nội loạn, cũng như phá được đại quân Tống ở phương Bắc, bình được Chiêm Thành ở phương Nam. Do đó vua Lê đã tạo được thanh thế rất lừng lẫy.

Năm 1010, Lý Công Uẩn tiếp nối nghiệp đế của nhà Lê để sáng lập ra nhà Tiền Lý, truyền ngôi được chín đời. Lý Công Uẩn là vị vua rất giỏi võ thuật, xuất thân từ cửa thiền ngay từ nhỏ đã theo nhà sư Lý Khánh Vân làm con nuôi, được học võ lâm và đạo thiền tại chùa Cổ Pháp. Khi lớn lên nhờ tài văn võ mà được nhà tiền Lê bổ nhiệm chức Quân Tả Thần Vệ Viện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ rất trọng đãi giới tu hành, Phật giáo cũng được chọn làm quốc giáo, song song với Thiền tông, nhà vua cũng phát động việc huấn luyện môn võ lâm cổ truyền cho các quan viên, quân sĩ, cũng như các hoàng tử đều phải luyện tập võ lâm ngay từ thuở nhỏ. Khi lớn lên, các hoàng tử đều giỏi võ lâm và cách dùng binh. Muốn được phong vương các hoàng tử đều phải đích thân cầm binh đánh giặc để lập chiến công.

Năm 1054 – 1072, để gia tăng hiệu quả về binh bị, vua Lý Thánh Tông lo việc định quân hiệu, chia phân quân đội ra làm Tả, Hữu, Tiền, Hậu. Tất cả là bốn bộ, hợp lại là một trăm đội, mỗi đội đều có lính kỵ và lính bắn đá còn những phiên binh thì lập ra thành đội riêng biệt, không cho lẫn lộn với nhau. Binh pháp nhà Lý vào lúc bấy giờ có tiếng là giỏi, nhà Tống bên Trung Hoa đã phải tìm hiểu thêm. Điều này cũng làm vẻ vang cho con dân đất Việt.

Năm 1072 – 1127, vua Lý Nhân Tông còn chia võ ban ra làm chín phẩm. Quan đại thần có Thái Sư, Thái Phó, Thái Úy, Thiều Sư, Thiếu Phó, Thiếu Úy. Còn phái dưới có Thống, Nguyên Súy, Tổng Quản Khu mật Sứ, Khu Mật Tả Hữu Sứ, Kim Ngô Thượng Tướng, Đại Tướng,Tướng, Chu vệ Tướng Quân… . Vào thời này, cũng nên kể đến danh tướng Lý Thường Kiệt, một võ tướng tài ba thao lược cũng đã lập được nhiều chiến công rực rỡ trong cuộc dẹp nội loạn, bên ngoài phá Tống bình Chiêm Thành.

Năm 1125 – 1400, tiếp nối nhà Lý các vua nhà Trần chú trọng đến việc chỉnh đốn quân binh. Vua Trần Thái Tông ra luật tổng động viên, tất cả những dân trai tráng đều phải đi lính. Ngài cho mở nhiều “Giảng Võ Đường” để huấn luyện võ lâm cho dân chúng. Nhằm trông nom binh bị tại triều đình, vua đặt ra các chức: Phiêu Kỵ Thượng Tướng Quân, Cẩm Vệ Thượng Tướng Quân, Kim Ngô Đại Tướng Quân, Võ vệ Đại Tướng Quân, Phó ô Tướng Quân,… và ở ngoài, có các chức Kinh Lược Sứ, Phòng Ngự Sử, Thứ Ngự Sử, Quan Sát Sử, ô Hộ, ô Thống, Tổng Quản,… Binh lính được chia thành Quân và ô, mỗi Quân có ba chục ô, mỗi ô có tám chục người được xếp vào Quân và Hộ. Binh lính phải luôn luôn luyện tập võ thuật, sẵn sàng trong tình trạng chiến đấu. Binh lực của nhà Trần lúc này rất hùng mạnh, ba quân tướng sĩ rất là thương yêu lẫn nhau. Vì vậy, đã hơn ba lần thắng được giặc nhà Nguyên, đánh đuổi hơn năm chục vạn quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi vào năm 1284 – 1288, dưới sự lãnh đạo của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cùng với sự hợp lực của các võ tướng như Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão đã chiến thắng trận Chương Dương .Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão, Hưng Võ Vương Nguyên, Hưng Hiếu Vương Úy cùng với Hưng Đạo Vương đã đánh thắng quân Nguyên tại trận Vạn Kiếp, đến nổi tướng Mông Cổ là Thoát Hoan thua phải bỏ chạy về nước. Trần Khánh Dư cướp lương thực của quân Nguyên tại trận Vân Đồn. Tại trận Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương đại thắng bắt được Ô Mã Nhi và Trần Nhật Duật đã phá quân của Toa Đô ở trận Hàm Tử Quan.

Đây là những chiến công rất hiển hách, vẻ vang nhất trong lịch sử vì với một đế quốc Mông Cổ lớn mạnh nhất vào thời bấy giờ, có một binh lực viễn chinh hùng mạnh, đã từng làm mưa làm gió tại các chiến trường lớn trên thế giới, đã chiến thắng thôn tính được nhiều dân tộc lớn trên thế giới như đã thôn tính được nước Trung Hoa, chiếm được Tây Bá Lợi Á, xâm lăng Trung Âu, uy hiếp được Áo và Đức… Thế mà khi đến bờ cõi Việt Nam, họ phải nếm mùi thật trận hơn ba lần. Hơn ba lần chiến thắng vinh quang của dân tộc Việt đối với kẻ thù số 1 của loài người trong thời đó, đã chứng tỏ được dân tộc Việt là một dân tộc oanh liệt đứng hàng đầu trên thế giới.

Trong lúc chống với giặc Mông Cổ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã soạn ra bộ “Binh Thư Yếu Lược”. Đây là bộ sách tập hợp các phương pháp dùng binh đánh giặc của những danh gia trên thế giới để huấn luyện cho quân sĩ.

Năm 1400, sau khi cướp được ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly lo chỉnh đốn việc binh bị để đề phòng chống với giặc Minh. Hồ Quý Ly bắt dân kê khai hộ tịch rất cẩn thận rồi tuyển dân vào làm lính để gia tăng số binh sĩ, và chia quân đội ra làm bộ binh, và thủy binh. Ngoài ra còn thành lập bốn kho quân trang quân dụng, và tuyển dụng người có kỹ thuật vào làm việc ở xưởng sản xuất binh khí.

Về thủy binh, để đề phòng giữ mặt sông và biển, Hồ Quý Ly cho làm ra những chiến thuyền lớn, ở trên có sàng đi, ở dưới cho người chèo chống, thật là tiện lợi trong việc chiến đấu. Ở các cửa bể và nơi hiểm yếu của các sông lớn, Hồ Quý Ly cho người lấy gỗ đóng cọc để đề phòng quân giặc. Việc quân chế ở Nam và bắc được phân chia ra làm mười hai vệ, Đông và Tây được phân ra làm tám vệ. Mỗi vệ có mười tám đội, mỗi đội có 18 người. Đại quân có ba chục đội, trung quân có hai chục đội. Mỗi doanh có mười lăm đội, mỗi đoàn có mười đội. Còn những cẩm vệ chỉ có 5 đội và một người đại tướng thống lãnh.

Năm 1418, Bình Định Vương Lê Lợi cùng với các nghĩa sĩ sau nhiều năm gian lao thao luyện đứng lên khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Mãi đến năm 1427, ngài mới đuổi được quân nhà Minh ra khỏi bờ cõi Việt Nam.

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua, trong các vị có công lao lớn theo giúp vua, đáng kể nhất về quan văn là ông Nguyễn Trãi trong việc tham mưu, về quan võ có đại tướng Lê Vấn và nhà sư Sa Viên trong việc huấn luyện võ dũng cho binh sĩ. Riêng về nhà sư Sa Viên, hiệu là Sơn Nhân người ở tỉnh Sơn La, Bắc Việt, vào năm 1407 ngài theo quy y học đạo tại chùa Huyền Thiên, tỉnh Sơn Đông Trung Hoa. Năm 1415, ngài về nước theo giúp vua Lê Lợi trong việc huấn luyện võ công cho các nghĩa sĩ.

Đến năm 1428, vua Lê Lợi cho mở ra những kỳ thi “Minh Kinh Khoa” bắt buộc các quan văn võ, từ tứ phẩm trở xuống phải dự thi, nghĩa là quan văn phải vào kinh thi sử, quan võ phải thi về võ kinh. Nhà vua còn mở rộng các khóa thi Minh Kinh cho dân chúng, để kén chọn nhân tài, ẩn sĩ ra giúp nước. Nhân vào cơ hội phát động võ thuật của vua Lê, thầy Sa Viên đã thành lập trường huấn luyện võ thuật, đặt tên là “Trường Võ Bình Định” để tưởng nhớ đến công lao của Bình Định Vương Lê Lợi, đã có công đánh đuổi quân Minh mang lại thanh bình cho xứ sở.

Năm 1460, vua Lê Thánh Tông cho mở khoa thi Tiến sĩ đầu tiên. Mỗi ba năm ngài cho mở kỳ thi võ để tưởng thưởng quân sĩ và kén chọn nhân tài võ dũng. Vào thời bấy giờ, nhiều võ sinh của trường võ Bình Định đã được trúng tuyển, cho nên danh từ võ phái Bình Định đã được dân chúng biết nhiều đến kể từ đó. Về binh bị, vua Lê Thánh Tông còn chỉ thị cho các quan Tổng Binh phải chăm lo giảng tập trận đồ, thao luyện binh sĩ. Ngài cho đổi lại năm vệ thành năm Phủ: Trung Quân Phủ, Nam Quân Phủ, Bắc Quân Phủ, Đông Quân Phủ, Tây Quân Phủ. Mỗi phủ có sáu vệ, mỗi vệ có năm hay sáu sở, mỗi sở có bốn trăm người. Quân sĩ của năm phủ có khoảng sáu hoặc bảy vạn người. Ngài còn đặt ra ba mươi mốt điều quân lệnh để tập thủy trận, bốn mươi hai điều để tập bộ trận. Năm 1679, vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ở miền Nam nền võ học Việt Nam còn chịu ảnh hưởng vào các võ phái của người Trung Hoa như Thiếu Lâm Nam và Bắc phái, Võ Đang, Nga Mi, Không Động, Bạch Hạc, Bát Quái Chưởng,… xuyên qua các quan binh của nhà Minh bất phục tùng Thanh Triều đến khai hoang lập ấp, định cư rãi rác trên các vùng đất cận Nam. Do đó, về sau người ta còn được nghe nhắc đến những danh từ như Võ Tiều, Võ Hẹ, Võ Quảng, Võ Hải Nam, Võ Phúc Kiến,… (để chỉ các môn võ do các người Trung Hoa, gốc thuộc các địa phương khác nhau). Đến đây, chúng tôi xin nhắc lại một quan điểm chính trị của chúa Nguyễn Hiền Vương, với ý định mở mang bờ cõi về miền Nam, cho nên chúa Nguyễn đã cho phép các tướng lãnh cùng hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh bất phục tùng Thanh Triều đến tỵ nạn, và tiện dịp, dùng họ để khai hoang, lập ấp tại các vùng đất cận Nam, rồi dần dần xâm chiếm các vùng đất của người Chân Lạp.

Về sau những vùng đất khai hoang, lập ấp này đã tạo nên những thành phố dân cư trù phú, sự thịnh vượng đáng kể nhất là việc sản xuất lúa gạo đã tạo nên một nền kinh tế lớn mạnh ở miền Nam. Nền kinh tế này đã giúp ích rất nhiều cho chúa Nguyễn trong công cuộc thống nhất sơn hà. Trong các tướng lãnh nhà minh đến khai hoang định cư, đáng kể nhất là tướng Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Lịch. Vào năm 1679, Trần Thắng Tài đã khai hoang tại Biên Hòa và dọc theo các vùng đất thuộc đồng bằng sông Đồng Nai. Còn Dương Ngạn Lịch lập ấp tại Mỹ Tho, và các vùng đất thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1680, Mạc Cửu định cư tại Hà Tiên và vùng đất dọc theo vịnh Xiêm La (Thái Lan), Rạch Giá, Cà Mau.

Năm 1706, vào đời vua Lê Dụ Tông, ở miền Bắc chúa Trịnh Cương cho mở trường huấn võ, đặt quan giáo thụ để dạy cho con cháu các quan võ về môn võ kinh chiến lược. Cứ mỗi tháng một lần tiểu tập. Ba tháng một lần đại tập. Mùa xuân và mùa thu thì tập võ. Mùa đông và mùa hạ thì thập võ kinh (là binh thư chiến lược và chiến thuật, áp dụng những phương pháp dùng binh đánh giặc). Kể từ đó mà danh từ võ kinh mới được phổ thông trong quần chúng. Mỗi năm có một kỳ thi võ. Để tham dự vào kỳ thi võ, thí sinh lần lượt phải qua các bộ môn như bắn cung, múa giáo, múa gươm, bắn cung trong lúc phi ngựa, và bắn cung trong lúc chạy bộ. Sau cùng, thí sinh phải qua kỳ thi vấn đáp về nghĩa lý trong sách vỡ thánh hiền để xét về học lực và những phương lược trong sách võ kinh để xét về tài năng.

Năm 1740, Trịnh Doanh cho lập võ miếu ở chánh vị có bàn thờ Vũ Vương, Khương Thái Công, Tôn Võ Tử, Quan Tư,… Ở phía sau có bàn thờ Trần Hưng Đạo, và lập miếu riêng thờ Quan Công. Mỗi năm vào mùa xuân và thu, vua cho mở cuộc tế lễ tại võ miếu.

http://vocotruyen.vn/

Huyền thoại Cái Bang

đăng 21:46, 19 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh   [ đã cập nhật 21:49, 19 thg 6, 2013 ]

Lịch sử Cái Bang có thể nói là từ rất lâu đời, danh xưng “Thiên Hạ Đệ Nhất Bang” không phải tự nhiên mà có. Nhờ tinh thần quật cường và nhân số đông đảo, phái này luôn chiếm một vị trí đáng kể trong võ lâm Trung Nguyên. Danh tiếng trên Giang hồ của Cái Bang lừng lẫy hàng trăm năm, nhân tài Ngọa hổ tàng long, thời nào cũng có. Trong bốn bể Đông Tây Nam Bắc, nơi nào có ăn xin, nơi đó có Cái Bang. Những đệ tử trong bang thương yêu giúp đỡ nhau, chia sẻ mọi thứ, tạo nên một khối thống nhất luôn theo phò Chính nghĩa.

Cái Bang là bang hội tập trung những tên ăn mày hành khất có rất đông hội viên, thường khoảng trên dưới vài chục vạn người thanh thế cực kì to lớn. Các đệ tử Cái Bang thường được chia theo đẳng cấp, mới gia nhập là cấp 1, đệ tử 1 túi rồi từ từ theo công lao và thời gian mà thăng cấp từ từ lên 2 , 3 , 4 … Cao nhất là các trưởng lão 8, 9 túi rồi trên nữa là Phó Bang Chủ và Bang Chủ. Bang Chủ Cái Bang rất được quần hào trọng vọng vì là người nắm trong tay sinh mệnh của hàng vạn đệ tử. Người có thể chi phối hầu hết các lực lượng võ lâm chính phái cùng với phái Thiếu Lâm là lãnh tụ võ lâm Trung Nguyên. Một bên được ví với Thái Sơn, còn 1 bên là Bắc Đẩu của võ lâm.

Trong lịch sử Cái Bang đã chịu nhiều khó khăn nhưng không quên mục tiêu của mình là tôn vinh chữ “nghĩa” và giúp người khó khăn. Vì vậy, Cái Bang trở thành môn phái gần gũi với dân nghèo và trở thành trung tâm của Bách Đạo dựa trên nền tảng sức mạnh của dân chúng.Tất cả mười ba thành đều là lãnh địa của Cái Bang. Dù cho đi đến đâu thì cũng có thể thấy ăn mày và trong số những ăn mày đó thì phần lớn là người của Cái Bang. Phần lớn đệ tử của Cái Bang đã làm cho Cái Bang trở thành môn phái mạnh nhất và Cái Bang được coi là “tai mắt của thiên hạ”. Trong vô số những môn phái của giang hồ thì Cái Bang là môn phái có thế mạnh về tin tức nhất.Tất cả thu nhập của Cái Bang đều dựa vào việc xin ăn. Nhưng việc xin ăn này không phải là do bất hạnh hay vì miếng ăn đơn thuần. Mục đích xin ăn của Cái Bang là kết bạn và cuối cùng là ra tay nghĩa hiệp.

Các đệ tử của Cái Bang có quyền học võ của bất kì môn phái nào, hay có thể được Bang Chủ truyền dạy võ công. Nhưng Cái Bang cũng có 2 môn Thần Công trấn phái là Hàng Long Thập Bát Chưởng cùng Đả Cẩu Bổng Pháp. Hai môn võ này được truyền tụng đời đời, các Bang Chủ chấp chưởng đại quyền đều phải biết 2 môn công phu này. Hàng Long chưởng có thể không biết nhưng nhất định phải thông thạo 36 chiêu Đả Cẩu Bổng. Suốt các đời Bang chủ luôn phải lãnh đạo Bang chúng hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổ phò nguy đối phó ngoại xâm nội phản chống lại các thế lực ác độc của võ lâm. Vì vậy Cái Bang luôn có thanh thế rất lớn trên giang hồ và luôn nhận được sự kính trọng mến phục của đồng đạo võ lâm. Trong đó nổi tiếng nhất là Hồng Thất Công, bang chủ đời 18 của Cái Bang, người đã đạt đến cảnh giới 2 loại võ công trên.

Lịch sử Cái bang:

Theo lời kể của Hồng Thất Công, thì Cái Bang có lịch sử cũng khá lâu đời. Khoảng vào thời Đường sau khi Thiếu Lâm khai môn lập phái, vị Tổ Sư mở bang sáng lập bang phái cùng với 18 chiêu Hàng Long chưởng. Còn Đả cẩu Bổng pháp thì chưa được hoàn thiệ , truyền qua từng đời thì tới đời thứ 3 vị Bang chủ này thêm vào thành 36 chiêu Đả Cẩu Bổng hoàn chỉnh …Truyền qua nhiều đời, thời cực thịnh của Cái Bang có thể là từ lúc Tiêu Phong tiếp nhiệm Cái Bang. Ông là vị Bang Chủ được đánh giá là tài ba nhất của Cái Bang với bao nhiêu công trạng to lớn lập được cho võ lâm Trung Nguyên và triều đình Đại Tống.

Lực lượng Cái Bang lúc đó khoảng hơn 60 vạn người, tiếc thay anh hùng thường bị trời ghen ghét. Nên Tiêu Phong đoản mạng, lập tức Cái Bang như rắn mất đầu chẳng còn oai phong như khi xưa. Mãi tới khi Hồng Thất Công nắm quyền mới có thể khôi phục phần nào uy danh lừng lẫy của Bang phái năm xưa. Sau Hồng Thất Công là Hoàng Dung, vị Bang chủ nữ đầu tiên của Cái Bang từ khi mở bang (người thứ hai là Sử Hồng Thạch), cũng đã lập nhiều đại công tạo dựng lại thanh thế cho Cái Bang trên giang hồ. Rồi Lỗ Hữu Cước , Gia Luật Tề thay nhau tiếp nhiệm … Qua nhiều năm , Cái Bang càng lúc càng suy vi, cho đến thời của Sử Hoả Long thì Hàng Long Thập Bát Chưởng thất truyền còn Cái Bang chỉ là 1 bang hội hạng 2 trên giang hồ …

Qua nhiều năm, cơ chế của Cái Bang có đôi chút thay đổi. Thời Bắc Tống , ngoài Tứ Đại Trưởng Lão Cái Bang còn có 2 vị trưởng lão là Truyền Công , Chấp Pháp , qua thời Nam Tống , các vị trưởng lão lại chia ra 2 phe : Áo Dơ , Áo Sạch và cũng chỉ còn 4 vị, đến thời Nguyên Minh chỉ còn 2 vị lãnh đạo cao nhất là Trưởng Bát Long Đầu và Trưởng Bảng Long Đầu cùng tên Chấp Pháp …

Các Bang Chủ Cái Bang qua các thời kì :

- Uông Kiếm Thông : Bang chủ đời thứ 16

- Tiêu Phong : Bang chủ đời thứ 17

- Hồng Thất Công : Bang chủ đời thứ 18

- Hoàng Dung : Bang chủ nữ duy nhất , đời thứ 19

- Lỗ Hữu Cước : Bang chủ đời thứ 20

- Gia Luật Tề : Bang chủ đời thứ 21

Sau đó còn 2 vị là Sử Hoả Long , Giải Phong ( trong Tiếu Ngạo Giang Hồ ) : không rõ đời thứ bao nhiêu …

Hệ thống võ công:

Ưu điểm của võ công Cái Bang là có tính thực dụng và thực tiễn cao. Không duy trì, giữ gìn lễ nghi và lề thói như những môn phái khác của Bách Đạo. Võ công của Cái Bang chuyên đánh lạc hướng đối phương, nên thoạt nhìn nó có vẻ lén lút hèn hạ. Thế nhưng, ẩn bên trong nó là triết lý của những bậc thầy không màng tới thế sự. Võ công Cái Bang không ảo diệu thâm thúy. Trong các loại võ công, võ công Cái Bang chỉ có mấy ưu điểm được bổ sung là mang tính lịch sử và truyền thống (Đả Cẩu Bổng Pháp hay Giáng Long Thập Bát Chưởng…). Do đó, hầu hết những đệ tử đều bị nguy hiểm vì chạy theo lợi ích lớn mà từ bỏ thân thể mình.

1.Cái Bang Chưởng Pháp :

Cao thủ Cái bang càng đánh càng dồi dào sức lực, khi sinh mạnh lâm nguy võ công được phát huy tới mức tột đỉnh.Đệ tử Cái bang thiện chiến giáp lá cà, đồng thời né tránh đòn đánh gần rất lanh lẹ. Những kẻ ra đòn nặng với đệ tử Cái bang đều phải chuốc lấy phần thiệt. Họ càng ra nhiều đòn liên hoàn, công lực càng tăng lên gấp bội và có thể kết liễu kẻ địch từ xa. Đến khi nhận ra ý đồ của họ, kẻ địch tiến thoái lưỡng nan, chạy trốn không được mà chống cự cũng không nổi.

Võ công tuyệt học của Cái Bang Chưởng pháp là Hàng Long Thập Bát Chưởng, còn gọi là Giáng Long Thập Bát Chưởng, môn võ công trấn phái của Cái Bang. Giáng Long Thập Bát Chưởng được xem là 1 trong 3 chiêu thức lợi hại nhất võ lâm, cùng sánh ngang với tuyệt kỹ võ học của Thiếu Lâm và Võ Đang. Sau đây là tên 15 chiêu của Giáng Long Thập Bát Chưởng, 3 chiêu cuối của Giáng Long Thập Bát Chưởng tương truyền đã không còn hiện hữu giang hồ sau khi Hồng Thất Công rời Cái Bang mai danh ẩn tích, các bang chủ về sau của Cái Bang không ai có thể luyện được 3 chiêu này :

1 . Kháng Long Hữu Hối

2 . Phi Long Tại Thiên

3 . Quần Long Vô Thủ

4 . Tiềm Long Hốt Dụng

5 . Bàn Long Thực Nhật

6 . Song Long Xuất Hải

7 . Đột Như Kì Lai

8 . Lợi Thiệp Đại Xuyên

9 . Kiến Long Tại Điền

10. Hoặc Dược Tại Uyên

11. Lý Sương Băng Chí

12 . Hồng Tàm Ư Lục

13 . Chấn Kinh Bách Lý

14 . Thần Long Bãi Vĩ

15 . Long Chiến Vũ Dã

Bộ chưởng pháp này là võ công chí cương của thiên hạ, bao đời Bang Chủ Cái Bang nhờ nó mà thành danh giang hồ uy lực tuỳ theo người sử dụng.

Hoàng Dung: Nữ bang chủ duy nhất của Cái Bang
Những cao thủ về môn chưởng pháp này có thể kể là Tiêu Phong, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh. Tiếc thay, từ sau thời Anh Hùng Xạ Điêu, vật đổi sao dời Hàng Long Chưởng cũng theo đó mà thất truyền cùng với sự suy vi của Cái Bang. Đến thời Gia Luật Tề thì chắc không học nổi toàn bộ, Quách đại hiệp đành phải gửi gắm hi vọng vào hậu thế trong thanh Ỷ Thiên kiếm… Nhớ lại sau này bang chủ Cái Bang Sử Hoả Long chỉ tập thành có 12 chiêu mà tiếc cho Tiêu Phong 1 thân anh hùng lại vùi thây nơi hiểm địa …

2.Cái Bang Bổng Pháp

Đả Cẩu Bổng Pháp: Công nhận là tổ sư khai môn lập phái của Cái Bang thật lạ, một mặt sử dụng tên 1 con linh vật, Rồng để đặt tên cho chưởng pháp (Hàng Long thập bát chưởng) mặt khác sử dụng tên một con vật tầm thường, Cẩu để gọi môn Bổng Pháp chí bảo trấn bang…

Như ta đã biết, Đả Cẩu Bổng Pháp gắn liền với cây Đả Cẩu Bổng danh lừng thiên hạ. Tương truyền tất cả các Bang Chủ Cái Bang khi tiếp nhiệm trọng trách đều được Bang Chủ tiền nhiệm dạy cho môn võ công thần diệu này. Nhưng có lẽ ít ai biết được hình dáng thực sự của cây Đả cẩu Bổng. Bởi nó dài 3 thước lẻ 7 phân, hình thẳng và làm bằng trúc xanh. Còn Đả Cẩu Bổng của Bang Chủ thì làm bằng Lục ngọ , có màu xanh như trúc vậy. Một cây gậy tầm thường như vậy nhưng lại có quyền lực tối cao, có thể sai khiến hàng vạn vạn Bang Chúng dưới quyền.

Tiếp theo là bàn về Đả Cẩu Bổng Pháp, lộ Bổng Pháp này gồm 36 chiêu chia theo 8 chữ khẩu quyết : buộc, đập, trói đâm, khều, dẫn, khoá, xoay. Tuỳ tình hình địch thủ và gia số võ công mà sử dụng 1 trong 8 chữ khẩu quyết này là có thể khắc địch chế thắng. Điểm lợi hại của Bổng Pháp này là người võ công kém hơn khi đụng đối thủ mạnh cũng có thể chiến thắng nổi, chiêu thức Bổng Pháp biến ảo tinh diệu tuyệt kì. Có thể điểm sơ sơ qua vài chiêu:

1. Ngao Khẩu Đoạt Trượng (dùng cướp gậy)

2. Áp Thiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khoá)

3. Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)

4. Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)

5. Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm )

6. Bát Cẩu Triều Thiên ( chữ Khoá )

Người có thể sử dụng thuần thục Đã Cẩu Bổng Pháp lại là nữ bang chủ duy nhất của Cái Bang, đồng thời cũng là bang chủ đời 19 của Cái Bang : Hoàng Dung.

Nói đến Cái Bang là ta nói nghĩ ngay đến “Thiên Hạ Đệ Nhất Bang”, nghĩ đến các nhân vật Hồng Thất Công, Kiều Phong (Tiêu Phong), Quách Tĩnh v.v…. Ngoài danh hiệu “Thiên Hạ Đệ Nhất Bang” ra, ta còn dễ dàng liên tưởng đến Giáng Long Thật Bát Chưởng, Đã cẩu bổng pháp. Đệ tử Cái Bang phân bố khắp nơi, đông tay nam bắc đâu có ăn xin, là nơi đó có phân đà của Cái Bang.

Kết cấu bang phái:

Cấp cao nhất, thống lĩnh bang phái: Bang chủ.

Bang chủ lấy bốn biển làm nhà, ngao du đây đó, không cố định một nơi. Nguyên nhân 1 phần là do bang phái trải rộng khắp thiên hạ, nên bang chủ không thể ngồi một nơi mà quản lý bang hội, nên phải nay nơi này, mai nơi khác giám sát bang chúng. Tuy nhiên, vào mỗi đầu tháng phải đến Hồ Động Đình để họp cùng gặp các trưởng lão trong bang, xử lý những công việc quan trọng. Bang chủ Cái Bang võ công xuất chúng, lại ngày đây mai đó, nên hành hiệp trượng nghĩa khắp nơi. Rất nhiều người trong chốn giang hồ mang ơn bang chủ Cái Bang, vì thế rất được đồng đạo chốn giang hồ kính trọng.

Dưới bang chủ là trưởng Lão. Ví dụ như truyền công trưởng lão (dạy võ công), chấp pháp trưởng lão, chưởng côn trưởng lão v.v…. Nhiệm vụ là giúp đỡ bang chủ xử lý công việc trong bang. Đảm đương chức vụ trưởng lão, phải là đệ tử 9 túi.

Kế đến, đó là đệ tử 8 túi. Giữ cương vị hộ pháp trong bang. Thường gồm có 5 người, xưng là Ngũ Đại Hộ Pháp, gồm : Đông Đàng Hộ Pháp, Tây Đàng Hộ Pháp, Nam Đàng Hộ Pháp, Bắc Đàng Hộ Pháp, Trung Đàng Hộ Pháp. Nhiệm vụ của họ là phân công quản lý các phân đà ở 5 khu vực khác nhau của Trung Nguyên.

Tiếp theo đó là đệ tử 7 túi, thường giữ chức vụ trưởng phân đà ở 1 thành thị nào đó, kế đến là dệ tự sáu túi, năm túi, bốn túi, ba túi, hai túi, một túi, và không có túi nào.

Nguồn internet

Cảm nhận về võ đức

đăng 02:52, 3 thg 6, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh

Võ đức là phẩm chất cao quý của người học võ, dạy võ; là hành trang không thể thiếu của người dụng võ. Cổ nhân dạy rằng: “Tập võ chi Đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học của khoa học, nghệ thuật, văn hoá truyền thống…

Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người pháp luyện thân tăng cường sức khoẻ, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất, cùng nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh, khí, thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…, đặc biệt là triết học Đông phương.

Võ là văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính, rèn luyện nhân cách, tu dưỡng đạo đức làm người. Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, trên tinh thần giản dị, khiêm tốn, điềm đạm, đạt đến Chân-Thiện-Mỹ trong cuộc sống. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là văn hoá thượng võ tôn sư trọng đạo. Đó là võ đức. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch.

Tuy đặc thù võ thuật là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó học được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là đỉnh cao người học võ khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha, nhân ái. Có rất nhiều thuật làm cho thân thể khỏe mạnh, biết được một thuật đủ để khỏe mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó.

Các môn phái võ cổ truyền có mục đích, tôn chỉ, môn qui, những điều tâm niệm để giáo dục võ sinh. Không phản thầy, phế đạo. Không bất hiếu, bất trung. Không bất nhân, bất nghĩa. Võ thuật khởi đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Khi diễn quyền, bắt đầu bằng bái tổ (Tam bộ bái tổ, nhị bộ kính sư, hồi thân lập trụ…) và kết thúc cũng bằng bái tổ (Thối hồi đơn phụng quang châu; Chân theo xà tấn kiếm hầu tổ sư). Đó là thông điệp mà các bậc chân sư gửi vào bài võ để nói lên tinh thần đạo đức trong võ thuật.

Người học võ cần chọn người hiền đức làm thầy, bản thân mình thì khiêm hư hiếu học, tôn kính sư trưởng, phát huy võ đức. Lòng tâm niệm: “Một chữ truyền trao cũng là thầy mà nửa chữ truyền trao cũng là thầy”. Nếu làm được những điều cao đẹp ấy thì thật là tôn quý biết chừng nào. Nhưng thực tế cuộc sống và tôn chỉ võ đức đôi khi bị vùi dập bởi dòng sống cuộc đời như dòng sông cuồn cuộn, lôi cuốn những lý tưởng cao đẹp nhận chìm lẫn trong hôi tanh của bùn đất. Bởi vậy mới thấy những cảnh tranh giành quyền lợi, thủ đoạn luồn cúi bất minh mưu cầu một chút hư danh, ảo giác, vọng ngữ khoe khoang những điều không đúng với thực chất của mình, xa rời liêm sỉ, bỏ thực cầu hư.

Trong binh pháp cũng đề cao võ đức “Bổn đức tôn đạo - dùng đức làm nền gốc, lấy đạo làm cao quý: An mục an ư nhẫn nhục; tiên mạc tiên ư tu đức; lạc mạc lạc ư hiếu thiện; thần mạc thần ư chí thành… nghĩa là chẳng có gì yên bằng nhẫn nhục, chẳng có gì cần trước hơn là tu đức, chẳng gì vui bằng mến điều lành, chẳng có gì mầu nhiệm hơn lòng chí thành…” (Thái Công Binh pháp)

“Dùng mưu trí hàng phục thiên hạ mà thiên hạ chịu khuất phục mưu trí của mình thì mưu trí ấy cũng chưa phải là tối thắng. Dùng hình pháp để chế ngự thiên hạ mà thiên hạ chịu theo hình pháp của mình thì hình pháp ấy cũng chẳng có gì hay. Dùng mưu trí hay hình pháp đều chẳng phải là điều hay nhất trong những điều hay. Ngày xưa Thánh Võ giữ thế mà chẳng vây thành, chẳng đánh lũy, chẳng bày trận, đó là nhờ nương náu ở chỗ hư không. Un đúc trong thế không tranh mà được vậy”. (Binh Thư Yếu Lược - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)

Tài năng của tướng súy là “Đạo chi dĩ đức; tề chi dĩ lễ; tri kỳ cơ hàn; sát kỳ lao khổ; thử chi vị nhân tướng… Dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ nghi để sắp đặt yên ổn cho người, hiểu biết việc đói rét của họ, đó là hạng tướng có lòng nhân ái…” (Binh pháp - Khổng Minh Gia Cát Lượng)

Sách Luận ngữ chép: “Làm việc chánh dùng lấy đức ví như sao Bắc Thần đứng một chỗ mà các vì sao khác đều qui chầu tất cả” và Trương Cửu Thành thì: “Người biết đạo tất không khoe, người biết nghĩa tất không tham, người biết đức tất không thích tiếng tăm lừng lẫy”.

Với võ thuật cổ truyền, giữ được lòng tự trọng dân tộc Việt Nam là giữ được tinh thần võ đức cao cả.

Nguồn : http://www.hocvo.com

Dạy võ là dạy đạo làm người

đăng 09:28, 25 thg 5, 2013 bởi Hiệu Trần Khánh   [ đã cập nhật 02:53, 3 thg 6, 2013 ]

Người có võ rất coi trọng lễ và giữ lễ. Trong thời đại giao lưu, hội nhập; khi các mối quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị truyền thống dễ bị lung lay, biến dạng, cả hoà tan; xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, là còn trọng lễ và giữ lễ.

Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức).

“Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định, nhất quán trong suốt quá trình dạy võ và học võ. Ngày đầu tiên đi học võ, người học phải trải qua thủ tục  “Bái sư nhập môn”. Tuy không rườm rà như ngày trước, nhưng phép tắc thì phải duy trì: người học thắp cây hương trên bàn thờ Tổ, được gặp mặt Thầy, được giới thiệu với vị Huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện, đặc biệt được hướng dẫn để biết phép tắc và những qui định của Võ đường... Bởi vì nơi tập là một Đạo đường, nên mỗi lần vào ra, người học phải cúi chào. Bất cứ lúc nào gặp thầy, bạn, huynh đệ, đều phải cúi chào. Bắt đầu và kết thúc một buổi tập, môn sinh phải chào Tổ, chào Thầy. Bắt đầu và kết thúc một trận đấu tập, hai đối thủ phải cúi chào nhau. Bắt đầu và kết thúc một bài quyền bao giờ cũng là cái chào. Bài tập đầu tiên trong cuộc đời học võ là bài chào. Trong Võ đường, và qua các kỳ kiểm tra, người học võ được đánh giá dựa trên hai tiêu chuẩn: thành tựu công phu và phẩm chất đạo đức, được thể hiện qua cung cách quan hệ, ứng xử với mọi người... Với những ai hiểu, thì đó không chỉ là hình thức mà còn bao hàm cả nội dung. Với những người học còn nhỏ tuổi, chưa kịp hiểu, thì cứ kiên trì thực hành lễ, một ngày kia tất sẽ ngộ ra ý nghĩa bên sau mỗi cái chào.

Người học võ chân chính không coi cái chào là lễ, mà là hình thức của lễ, cách thể hiện lễ. Cái chào ngầm chứa nội dung vô cùng quan trọng, vốn là kim chỉ nam của người học võ, đó là cái đạo của võ và đạo đức của người học võ, gọi chung là Võ đạo. Cái chào chỉ như bóng điện, Võ đạo mới là dòng điện. Không có dòng điện, bóng điện không thể toả sáng; không có tinh thần Võ đạo, cái chào chỉ còn là động tác gật đầu.

Cũng như quá trình tích tụ năng lượng để thắp sáng bóng đèn, quá trình học võ là quá trình tu dưỡng phẩm chất, đạo đức làm nền tảng cho hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Tuỳ theo từng mối quan hệ xã hội mà hành vi ứng xử khác nhau. Ví dụ, đối với cha mẹ khác đối với thầy, với bạn; đối với người thân, khác với kẻ sơ; với ân nhân khác với kẻ thù; cung cách đi dự đám cưới khác với dự đám ma... Nhưng dù sắc thái có khác nhau thế nào, thì tất cả đều được hình thành trên một nguyên tắc chung. Nói cách khác, nội dung ứng xử thì tuỳ từng mối quan hệ; nhưng nguyên tắc ứng xử thì chung nhất.

Người đời thường coi trọng hình thức của lễ, nội dung của lễ, nhưng con nhà võ còn coi trọng nền tảng, nguyên tắc của lễ.

Nguyên tắc đó là:

Nhân ái và tôn trọng

Nói tôn trọng là tôn trọng quyền tồn tại, quyền sống, quyền làm người, quyền làm người không giống ai. Trong đời sống xã hội, vị trí mỗi người tuy chẳng giống nhau, nhưng nhân cách làm người thì không khác nhau – ai cũng sinh ra và lớn lên bằng trái tim của mẹ; ai cũng bình đẳng trước thượng đế và trước cái chết. Có tinh thần tôn trọng, người tập võ không hạ mình trước bất cứ ai, không phân biệt ai hơn ai; không tâng bốc người trên, không miệt thị người dưới. Tôn trọng con người, tôn trọng mình, tôn trọng đối thủ, đó là một trong những phẩm chất hàng đầu của người học võ.

Nhân ái là mục đích cuối cùng của người học võ, nó giúp định hướng hành vi của người học võ. Dù nghĩ gì, làm gì, nói gì, xử sự thế nào, tất cả đều phải nhằm mục đích làm sao cho con người tốt hơn, cho mình tốt hơn, cho đời đẹp hơn. Nếu không vì lòng nhân ái, hành động của người học võ không khác chi hành động của tên cướp, nhưng nếu vì lòng nhân ái, hành động của anh ta sẽ là hành động anh hùng - “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Nguyễn Trãi).

Khiêm tốn và nhún nhường

Thói kiêu căng tự mãn là kẻ thù lớn nhất của người học võ. Sự hiểu biết không bao giờ có giới hạn. Ai không thấy thiếu sẽ không thêm được gì. Ai không biết ẩn mình sẽ không bay cao. Cái thùng đã đầy thì không còn chứa được nữa. Muốn nhảy lên cao thì phải rùn thấp. Muốn vượt qua xà phải biết uốn mình. Với người học võ, đức khiêm tốn không làm cho mình bé lại mà giúp mình có sức mạnh đi xa về trước; không làm cho mình thấp hơn đối thủ mà làm cho đối thủ không cao hơn mình. Đức khiêm tốn còn thể hiện đạo đức của người học võ: yêu người, vì người, “đi trước về sau”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”.

Niềm tin và bản lĩnh

Ở đời, không ai có tất cả, không ai không có tất cả. Con gà trống gáy một tiếng, cả làng thức dậy, nhưng không đẻ được trứng; con gà mái đẻ được trứng, nhưng không làm kinh động được ai. Ông nông dân lấy vợ, sinh con, lao động cực nhọc nuôi sống gia đình, nhưng không làm được nhạc. Ông nhạc sĩ tài danh sáng tác cả pho nhạc hay làm rung động trái tim bao thế hệ, nhưng không có vợ con, không cuốc nổi một luống đất. Thật vô lý nếu ông nông dân nọ mặc cảm vì không sáng tác được nhạc; hoặc ông nhạc sĩ kia đau buồn vì không làm tròn thiên chức lấy vợ, sinh con. Cho nên, học võ là học để biết mình là ai, biết cách hun đúc mình, hoàn thiện mình, có niềm tin và tự hào về mình. Mất niềm tin là tự đánh mất vũ khí của mình. Niềm tin, đối với người trí thức, đó là sức mạnh nội tâm; đối với bậc thiền sư, đó là tinh thần vô uý; đối với người học võ, đó là dũng khí của người chiến sĩ. Mất niềm tin, con người hoặc rơi vào tự ti, trầm cảm; hoặc trở nên hung hăng, gây hấn. Chỉ có bản lĩnh, có niềm tin, người học võ mới có sức mạnh để thể hiện cái đức nhân ái, khiêm tốn, nhún nhường, và tôn trọng người khác.

Nhân ái và tôn trọng, khiêm tốn và nhún nhường, bản lĩnh và niềm tin, đó không chỉ là nền tảng của mọi hành vi ứng xử, mà còn là nền tảng của tinh thần Hoà Hợp. Mục đích tối thượng của người học võ là thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người với tinh thần: cộng tác, cộng đồng, cộng hưởng, cùng hưởng... trong xã hội; thái hoà trong gia đình, và an lạc trong bản thân. Đây là điểm thanh niên chúng ta đang thiếu, thậm chí thiếu trầm trọng. Thanh niên chúng ta thiếu cái thuận mà thừa cái nghịch, thiếu cái hoà mà thừa cái bất hoà, thiếu đoàn kết mà thừa chia rẽ. Tôi từng nghe nói: “Một người Việt Nam và một người Nhật, thì người Nhật không bằng người Việt Nam. Ba người Việt Nam và ba người Nhật, thì ba người Việt Nam không bằng ba người Nhật”. Ấy là cách khẳng định thói xấu bất hợp tác, mất đoàn kết của người mình đó thôi. Vì sao ư? Có chi đâu, là vì chúng ta thiếu cái đức tôn trọng, yêu thương, khiêm tốn, bản lãnh và một sức mạnh nội tâm. Ở đời, phàm kẻ nào không có sức mạnh nội tâm, không có bản lĩnh, kẻ đó sẽ không nói được tiếng xin lỗi, xin cám ơn, xin vui lòng, xin nhận trách nhiệm... Và chắc chắn kẻ đó không thể thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

Tất nhiên, ở trường học và trong gia đình, ai cũng mong muốn dạy con em mình biết lễ phép, biết cách ăn ở, cách đối nhân xử thế. Nhiều trường học nêu cả khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở cổng trường và trong các lớp học. Nhưng xem ra, chỉ có võ là dạy cái lễ cho người học hiệu quả nhất. Nói vậy là vì, chỉ có võ mới có chương trình học vừa cả võ vừa cả lễ; nội dung kiểm tra lên đai đẳng cũng bao gồm cả lễ và võ. Ngoài ra, việc thực hiện chương trình “học lễ” xuyên suốt, nhất quán, và triệt để. Đặc biệt, võ coi trọng đào luyện cái gốc song song với cái ngọn, nội dung song song với hình thức, nền tảng song song với biểu hiện - coi trọng việc giáo dục cho người học tinh thần nhân ái, tôn trọng con người, khiêm tốn, niềm tin, và bản lĩnh, song song với việc dạy cho các em cách đối nhân xử thế, cách quan hệ ứng xử cho phải phép, phải đạo với mọi người.

Tiếc rằng, hiện nay nhiều người hiểu không đúng về võ. Họ cho võ là đánh nhau, là vai u thịt bắp, là mặt rổ mặt rạch... Họ không hề hiểu võ là một hình thái nghệ thuật, là công cụ giáo dục đạo làm người; học võ là học đạo làm người. Thêm vào đó, cũng vì có nhiều người dạy võ chỉ dừng lại ở mức “võ thuật” mà chưa đạt tới được mức “võ lý” và “võ đạo” - chỉ dạy cho người học cách đánh mà không dạy cho họ đánh ai, đánh thế nào, bảo vệ ai, bảo vệ cái gì... Đã thế, trong xu thế thị trường hoá, thương mại hoá, thể thao hoá, võ bị xếp ngang hàng với các môn thể thao khác. Người ta chạy theo thành tích, huy chương mà quên mất sứ mệnh giáo dục; chạy theo hư danh mà quên đi thực chất. Tất nhiên, võ cũng là một môn thể thao, nhưng không phải đơn thuần chỉ là một môn thể thao. Võ là môn thể thao truyền thống. Nó vừa phải làm nhiệm vụ đào tạo những vận động viên xuất sắc cho thể thao nước nhà, vừa phải hoàn thành sứ mệnh dạy cho người học sức khoẻ, phẩm chất đạo đức, đối nhân xử thế.

Hẳn chúng ta đều biết, “Tinh thần Nhật Bản”, “Sức mạnh Nhật Bản” được hun đúc bởi ba dòng sữa: Thần đạo Shinto, Phật giáo Thiền tông, và Tinh thần Võ đạo. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, võ là một trong hai dòng suối tạo nên Sức mạnh Việt Nam - “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững. Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa. Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng. Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà” (Huy Cận). Từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn... các bậc khai quốc, công thần đều xuất thân từ con nhà võ. Nhiều trong các triều đại ấy đều có trường dạy võ, chương trình học võ, và các kỳ thi võ (Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ). Rõ ràng, cùng với văn, võ đã góp phần hun đúc nguyên khí quốc gia, sức mạnh dân tộc; góp phần đào luyện con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có sức mạnh, niềm tin, và khí phách; được thử lửa qua suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

Ngày nay, đất nước ta hoà bình, thống nhất, thịnh vượng. Chúng ta có nhiều bạn bè, nhiều đối tác khắp năm châu. Chúng ta đang hân hoan vươn ra biển lớn. Nhưng nhìn lại, xem ra dòng suối võ ngày nào không còn chảy nữa! Không biết nó tắt từ thời nào? Vì sao tắt? Có cần khơi thông không? Làm thế nào khơi thông trở lại để võ tiếp tục góp phần mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước? Rất cần các công trình nghiên cứu nghiêm túc, các hội nghị khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề ấy.

Thiết nghĩ, dù đứng trước kẻ thù hay đứng trước đối tác làm ăn, mỗi dân tộc, mỗi con người đều phải cần có sức mạnh, niềm tin, và khí phách. Thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, thì không thể đánh thắng ngoại xâm; thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, cũng không thể làm ăn sòng phẳng với người.








Sưu tầm http://www.hocvo.com/vo-dao/1520-day-vo-la-day-dao-lam-nguoi-.html

1-10 of 41