Nguồn gốc chữ Tấn và tên các thế Tấn

đăng 21:09, 20 thg 4, 2013 bởi Tu Dao Duy

Trong cuộc sống, muốn giảm thiểu sự thua thiệt, con người phải vững vàng cả về thể chất lẫn tinh thần trong mọi vấn đề và mọi truờng hợp. Võ thuật, một khía cạnh của cuộc sống cung vậy. Phương pháp tạo nên sự vững vàng trong võ thuật chính là Tấn pháp. Có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng trong thực hành lại na ná nhau về Tấn pháp.

02 10Sp01L Nguồn gốc chữ Tấn và tên các thế Tấn

Kiềm dương tấn

– Theo võ cổ truyền Việt Nam: Tấn là giữ lại (không nên lầm với Tấn là tiến lên…) là sự ghìm giữ lại, chịu lại một sức nặng nào đó trên một phần của co thể…

– Theo tự điển Lê Ngọc Trụ: Tấn là cách luyện tập cho cứng chân tay trong môn võ học.

– Theo dân gian: Học võ là đứng Tấn, vô mùng phải tấn mùng (giắt, chận), đi ngủ phải tấn cửa (cài, chặn), nhiều đứa tấn một đứa vô gốc để đánh (ép, dồn, vây)…

Tuy chỉ là ba trong rất nhiều kiểu định nghĩa và hiểu về Tấn, nhưng chúng ta đều thấy bất ổn: Vậy Tấn đích thực là gì?

Tấn là phương pháp giữ vững TRỌNG TÂM và CÂN BẰNG cho co thể con người ở mọi vị thế, mọi trường hợp, hầu có thể thực hiện những động tác, những ý muốn của toàn thân, khi bất động hoặc di động đuợc linh hoạt, dễ dàng, chắc chắn và hữu hiệu. Bởi lẽ hầu hết các kiểu Tấn thông thường đều dùng CHÂN làm trụ chính, các bộ phận thân thể khác giữ vai trò phối hợp và hỗ trợ nên nguời ta hay gọi Tấn là cách đứng (bộ Pháp), bộ ngựa (Mã bộ)…

Trên thực tế hầu như tất cả các bộ phận phía ngoài cơ thể con người đều là trụ chính trong các thế tấn đặc biệt hữu dụng cho riêng từng bộ môn, ngành nghề, môn phái… Ngọa tấn (tấn nằm), Nhập địa thủ tấn (trồng chuối), Đọa tấn, Lạc tấn (té, lộn, ngửa sát đất), Lăng Không tấn (nhảy đạp, kẹp cổ), Tọa tấn (ngồi bẹp). Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến bộ Tấn siêu tuyệt của tri giác nhằm quân bình tinh thần, tạo nên sự bình tinh, sáng suốt, thánh thiện và an nhiên, tự tại cho con người: Tâm tấn.

Nguồn gốc chữ Tấn và tên các thế Tấn

Sau khi định nghĩa và hiểu Tấn là gì, chúng ta đều đi đến kết luận: Tấn là danh từ Hán Việt nhưng đã đuợc Việt hóa và cho đến nay mọi người đã quen dùng, vì vậy Tấn là một danh từ Việt Nam thuần túy để dùng và hiểu nó. Do nhiều đặc điểm ngôn ngữ vùng miền thì nên chữ Tấn đã được hiểu nhiều nghĩa khác nhau so với nghĩa gốc của nó.

1. Chữ “Tấn” thuộc bộ Thủy (nước) ghép với chữ “Phàm” (gồm, hèn hạ, cõi trần) có nghĩa là: Rẩy Nước, trú binh đề phòng giặc. Nếu chữ này dùng vào ngành võ để diễn tả: Tấn (tiếng Việt) thì rất gượng ép và khó hình dung.

2. Trong khi đó chữ Hán có một chữ âm vận tựa như âm Tấn, nghĩa thì rất hợp với võ thuật về Tấn pháp (tiếng Việt). Đó là chữ “Trấn”. Chữ “Trấn” thuộc bộ Kim (chỉ những vật bền chắc) ghép với chữ “Chân” (thực: không giả dối) có nghĩa là giữ gìn, đè, ép. Ví dụ: Trấn chỉ là cái chận giấy. Trấn biên là giữ gìn nơi biên ải.

Theo đó, có lẽ các cụ ngày xưa đã ảnh huởng vào lối nói không rõ ràng của người Hoa nên đã phiên âm theo kiểu riêng mà không cần tìm xuất xứ nơi chữ viết.

300px Motobu Choki2 Nguồn gốc chữ Tấn và tên các thế TấnTrung bình tấn

Trải qua nhiều thời gian, do nơi việc: Trọng văn, khinh võ, coi võ biền là dốt chữ – các bậc tiền nhân thâm nho đã nhắm mắt làm ngơ, nên đã lưu truyền đến bây giờ cái nhầm lẫn kể trên. Dù sao, chúng ta vẫn lấy chữ Tấn quen dùng để gọi chữ Trấn này. Mặt khác, chúng ta phải khẳng định rằng không phải chỉ riêng võ thuật là có Tấn.

Hầu nhu tất cả mỗi loài động vật đều có một hay nhiều thế tấn, đơn giản hoặc phức tạp, sáng tạo hay bẩm sinh, đuợc sử dụng trong các sinh hoạt thường ngày. Tuy vậy chúng ta phải công nhận chỉ riêng ngành võ là có hệ thống Tấn pháp đa dạng, phong phú và hữu hiệu cho từng bộ môn, ngành nghề, thoả mãn mọi nhu cầu sinh hoạt của con người. Theo đó, chúng ta không nên quá chú trọng về tên gọi các thế Tấn cũng như các kiểu Tấn.

Về tên gọi: mỗi phái võ trên toàn thế giới đều có rất nhiều cách đặt tên cho một số thế Tấn cố định. Nhưng danh xưng di nhiên hết sức hoa mỹ, đôi khi bí hiểm, lúc lại nôm na, cộc lốc và phần lớn là áp đặt…

Về các kiểu Tấn: như trên đã nói, bất cứ trong công việc gì, sinh hoạt nào, con người đều phải ổn định trọng tâm, sự thăng bằng co thể bằng cách phối hợp các bộ phận trong co thể để tạo ra một hình thức vững chắc tối đa. Đó là Tấn pháp.

Vậy nếu chịu mất thì giờ nghiên cứu, chúng ta có thể liệt kê cả trăm cả ngàn kiểu tấn với các tên gọi thật kêu, thật lạ. Ví dụ: Tấn xay lúa, tấn giã gạo, Nê hành tấn (tấn lội sình), Đăng sơn tấn (tấn leo núi), Tấn bán vé xe buýt, Kỵ Ngưu tấn (tấn cuỡi trâu), tấn cua v.v… Trong nhu cầu ngành võ, chúng ta chỉ cần biết những danh xưng thường gọi về Tấn pháp của một số môn phái để khỏi bỡ ngỡ trong khi tìm hiểu hoặc dự khán các buổi trình diễn võ thuật.

P7294070 Nguồn gốc chữ Tấn và tên các thế Tấn

Liên Hoa Tấn: – Đứng rùng người xuống, 2 tay chấp trước ngực

Môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo có 5 bộ tấn chính và 5 bộ tấn đặc biệt. Các phái võ trên thế giới cùng đều có hệ thống Tấn pháp tương tự nhưng cách đặt tên thì hoàn toàn khác nhau. Vovinam gọi theo tên thông dụng nhất: Tấn.

1. Võ Cổ Truyền Việt Nam, theo võ sư Lê Kim Hòa: bộ tấn được hệ thống theo chiều đứng từ thấp đến cao và lấy tên các loài thú vật

a. Cao: Lập tấn, Phụng tấn

b. Trung: Miêu tấn, Hổ tấn, Long tấn, Mã tấn, Hạc tấn, Kim kê tấn

c. Thấp: Xà tấn.

2. Võ Cổ Truyền Sa Long Cương: Trung bình tấn, Đinh tấn, Hổ lập Bình dương, Xà tự hạc tấn, Xà tự Đinh tấn, Mài thiền sư, Tả mã bộ, Hữu mã bộ, Bạch hạc tầm giang, Trảo mã chuyển, Xà tấn, Độc hành Thiên lý tấn.

3. Thiếu Lâm theo võ sư Đoàn Tâm Ảnh:

a. Cao: Lập tấn, Hạc tấn, Độc hành vu tấn

b. Trung: Trung bình tấn, Đinh tấn, Trảo mã tấn, Xà tự tấn, Âm dương tấn, Tẩu mã tấn.

c. Thấp: Quy tấn, Hạ mã tấn, Tọa tấn, Ngọa tấn.

VL ky10 %282%29 Nguồn gốc chữ Tấn và tên các thế Tấn

Hạc tấn


4. Nam Phái Thiếu Lâm: Nội quyền

a. Cao: Lập tấn, Hạc tấn

b. Trung: Trung bình tấn, Đinh tấn, Trảo mã tấn, Bát cước tấn, Quỵ tấn

c. Thấp: Xà tấn, Tọa tấn, Ngọa tấn.

5. Một số phái võ khác:

– Hùng tấn, Hầu tấn, Báo tấn, Áp tấn, Hồ vi tấn, Long vi tấn, Xà vi tấn, Hành tấn, Kỵ mã tấn, Bôn tấn, Liên hoa tấn, Thái âm tấn, Bá hoa trung tấn, Tả cung bộ, Hữu cung bộ, Phi cước tấn, Bàng long cước tấn, Nhi tự kiềm duong mã, Dương cung tấn, Narani, Kima, Chongul, Hugul v.v…


VS Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ

Comments