Tin nhanh võ thuật


Mai Sơn Lâm

  • Manny Pacquiao: 16 tuổi đã dùng nắm đấm để tồn tại (kì I) Nhắc đến quyền Anh hiện đại, cái tên Manny Pacquiao luôn làm người ta ngưỡng mộ và khâm phục. Với thể hình nhỏ bé, chỉ cao 1,69m nhưng anh ...
    Được đăng 10:17, 23 thg 4, 2015 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Ninja và những sự thật gây sốc Chắc hẳn ai cũng đã từng xem qua những bộ phim về các ninja và khi nhắc đến ninja ai cũng nghĩ đó là cũng con người mặc đò đen ...
    Được đăng 09:07, 13 thg 10, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản Võ thuật Nhật Bản có thể chia làm hai nhóm lớn  – các kỹ thuật võ nghệ Cổ truyền được truyền lại qua nhiều thế kỷ và Võ đạo ngày nay ...
    Được đăng 01:22, 24 thg 9, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Hé lộ tuyệt kỹ công phu điểm huyệt Trong truyện kiếm hiệp, công phu điểm huyệt được mô tả như là một thủ pháp làm cho địch thủ toàn thân tê cứng không nhúc nhích được. Thực hư ...
    Được đăng 11:47, 1 thg 9, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh
  • Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh Chiều ngày 14/8, ngôi sao võ thuật Cung Lê có buổi giao lưu với người hâm mộ yêu thích võ thuật Việt Nam nói chung và võ đài UFC ...
    Được đăng 23:07, 18 thg 8, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 87. Xem nội dung khác »



Manny Pacquiao: 16 tuổi đã dùng nắm đấm để tồn tại (kì I)

đăng 10:17, 23 thg 4, 2015 bởi Hiệu Trần Khánh

Nhắc đến quyền Anh hiện đại, cái tên Manny Pacquiao luôn làm người ta ngưỡng mộ và khâm phục. Với thể hình nhỏ bé, chỉ cao 1,69m nhưng anh chính là cái tên gieo rắc bao nỗi sợ hãi cho các đối thủ.

6 tuổi đã chứng kiến cảnh chia ly gia đình

Sinh ra ở Kibawe, Philippines, tám ngày trước Giáng sinh năm 1978, Pacquiao không có được tuổi thơ đẹp đẽ như những đứa trẻ khác. Gia đình cậu phải vật lộn với cuộc mưu sinh hằng ngày trong cảnh nghèo khó. Ở tuổi lên 6, cậu đã phải chứng kiến cảnh chia ly của gia đình khi bố mẹ chia tay nhau. Nguyên nhân là mẹ Pacquiao phát hiện ra bố cậu ngoại tình. Pacquiao phải trải qua những tháng ngày ăn ngủ ngoài đường phố. Có một câu chuyện kể rằng, một lần nọ, gia đình đói quá nhưng không có gì để ăn, bố của Pacquiao đã phải giết một con chó và ăn thịt.

Manny Pacquiao lúc còn trẻ

Manny Pacquiao lúc còn trẻ

16 tuổi dùng nắm đấm để kiếm sống

Ở tuổi 16, chàng trai Pacquiao thường phải sử dụng nắm đấm để tồn tại trên hè phố. Một lần nọ, anh đã lên tàu tới Manila và khai gian tuổi (18 tuổi) để được  trở thành một võ sĩ chuyên nghiệp. Cậu bé gầy gò, suy dinh dưỡng ngay lập tức gây ấn tượng mạnh với 11 trận bất bại liên tiếp. Tuy nhiên, sự cám dỗ của tiền bạc, rượu và cờ bạc đã khiến anh sa sút, vô kỷ luật. Kết quả là Pacquiao phải nhận thất bại đầu tiên ở trận đấu thứ 12 trước Rustin Torrecampo ở hạng ruồi trong vòng 3 hiệp đấu. Sau cú sốc này, Pacquiao thề quyết tâm nghiêm túc lại trong sự nghiệp.

Kể từ sau trận thua trước Rustin, Manny Pacquiao trở lại mạnh mẽ với 12 chiến thắng liên tiếp sau đó, trong đó có 11 trận thắng bằng KO. Với phong độ ấn tượng này, Pacquiao có trận đối đầu với nhà vô địch WBC hạng ruồi khi đó là Chatchai Sasakul. Trận đấu diễn ra ở Tonsuk College Ground, Phuttamonthon, Philippines. Sasakul chỉ để thua 1 trận duy nhất trong 33 lần thượng đài trong sự nghiệp. Đối đầu với chàng trai trẻ Pacquiao, Sasakul bước lên võ đài với tư thế chuẩn bị cho cuộc ăn mừng danh hiệu tiếp theo. Thế nhưng, kết quả là anh phải nhận cú KO từ Pacquaio ở hiệp thứ 8. Chàng trai đến từ Philippines có được danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp ở tuổi 20.

Lúc 16 tuổi đã phải dùng nắm đấm để kiếm sống và tồn tại

Lúc 16 tuổi đã phải dùng nắm đấm để kiếm sống và tồn tại

Mặc dù vậy, do trải qua những tháng ngày sống trong khốn khó và thiếu ăn, giờ đây đã có danh vị, tiền bạc Pacquiao bắt đầu vô kỷ luật với bản thân. Anh ăn nhiều hơn và trễ hơn. Kết quả là Pacquiao chỉ giữ được trọng lượng trong lần bảo vệ danh hiệu đầu tiên trước Gabriel Mira nhưng đến lần thứ hai thì anh phải trả giá. Võ sĩ người Phi thừa cân trong lần weigh-in trước trận đấu bảo vệ danh hiệu với Medgoen Singsurat, đối thủ đã tận dụng cơ hội này để KO đối thủ ở hiệp thứ 3. Thất bại này một lần nữa khiến Pacquiao phải nhìn nhận lại bản thân mình kể từ trận thua năm 2001.

Tuy nhiên, trận thua ngày cũng chính duyên cơ hay định mệnh đưa anh đến với phòng tập gym Freddie Roach’s Wild Card ở Hollywood. Freddie là cựu võ sĩ quyền Anh và được xem là một trong những huấn luyện viên quyền Anh xuất sắc nhất trong khoảng 10 năm gần đây.

Còn tiếp…

Minh Nam

Ninja và những sự thật gây sốc

đăng 09:07, 13 thg 10, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Chắc hẳn ai cũng đã từng xem qua những bộ phim về các ninja và khi nhắc đến ninja ai cũng nghĩ đó là cũng con người mặc đò đen kín mít, chỉ để lộ đôi mắt, sử dụng những vũ khí lợi hại như phi tiêu, kiếm, di chuyển nhanh nhẹn. Nhưng ít ai biết được sự thật đằng sau những con người bí ẩn này. Và những sự thật về Ninja dưới đây khiến chúng ta không khỏi ngỡ ngàng. 
1. Ninja là lính đánh thuê
Một trong những khách hàng của họ là những tướng quân nổi tiếng. Một tài liệu tiết lộ rằng, Ninja đã tham gia vào cuộc Nổi loạn Shimabara (1637-1638). Đây được coi là ghi chép cuối cùng về Ninja.
Tướng quân Tokugawa Iemitsu đã thuê 8 Ninja để giúp lực lượng Samurai của ông đánh bại một cuộc nổi dậy của người Thiên chúa giáo. Với võ thuật siêu đẳng, Ninja đã giúp Tướng quân Tokugawa Iemitsu đột nhập vào lâu đài và phá vỡ các bức tường, hàng rào phòng thủ của đối phương vào ban đêm.
2. Ninja vẫn còn tồn tại
Theo sử sách Nhật Bản, Ninja vẫn còn tồn tại và có lịch sử hoạt động từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Đây được coi là thời điểm chính trị bất ổn nhất trong lịch sử của xứ sở hoa anh đào. Năm 1603, Tokugawa Ieyasu là vị tướng quân đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa đã lãnh đạo binh sĩ, Ninja thống nhất đất nước.
Theo ghi chép, Ninja là những người sử dụng Nhẫn thuật Ninjutsu – loại hình chiến đấu biệt lập phát triển chủ yếu từ vùng Iga tại tỉnh Mie và làng Koka thuộc tỉnh Shiga. Kể từ khi đất nước thống nhất, vai trò của Ninja dần phai nhạt và mất đi trong xã hội. Hiện Ninja thường mặc những trang phục rất hiện đại và “sứ mệnh” của họ là làm gián điệp, vệ sĩ hoặc được thuê để ám sát nhân vật nào đó. Ninja được phân thành 3 cấp: cao nhất là Jonin, tiếp theo là Chunin và thấp nhất là Genin.
3. Ninja là những chuyên gia trong lĩnh vực chiến tranh du kích
Mọi người có thể học để trở thành Ninja. Theo sử sách ghi chép, Ninja hoạt động tương đối bí mật do đó Nhật Bản có rất ít tài liệu ghi lại thông tin về lực lượng bí mật, võ công siêu đẳng này.
Một số tài liệu đề cập đến Ninja là những điệp viên được đào tạo những kỹ năng chuyên nghiệp để chiến đấu. Họ là những điệp viên xuất chúng và là chuyên gia trong lĩnh vực chiến tranh du kích. 8 trường Võ thuật Ninja (Ninjutsu) tuyên bố sở hữu những bí kíp võ thuật của Ninja cổ có từ thế kỉ XII.
4. Ninja có thể từng là Samurai
Một số tài liệu của Nhật Bản ghi chép rằng, Ninja có nguồn gốc từ những chiến binh Samurai.
Trong số những Ninja nổi tiếng có Hattori Hanzo. Ông là minh chứng điển hình về mối liên hệ giữa Ninja với Samurai. Hattori Hanzo là Ninja phái Iga nổi tiếng trong lịch sử. Đồng thời, ông cũng là một võ sĩ Samurai. Một trong những chiến tích vẻ vang trong sự nghiệp của ông đó là từng cứu sống Đại tướng quân Tokugawa Ieyasu (1543 – 1616), người có công thống nhất Nhật Bản năm 1603. Sau đó, ông giúp sức cho Tokugawa Ieyasu lên nắm quyền.
 5. Ninja không tự chế tạo vũ khí chiến đấu
Các chuyên gia vẫn chưa tìm được nhiều chứng cứ chứng tỏ Ninja là người phát minh ra các loại vũ khí chiến đấu đặc thù như kiếm ngắn và phi tiêu Shuriken. Trong đó, phi tiêu là loại vũ khí mà những chiến binh Samurai sử dụng rộng rãi. Do đó, một số người không tin rằng Ninja đã sáng chế ra loại vũ khí này.
Nhật Bản đã sản xuất bộ phim Ninja Sword (công chiếu năm 1962) dựa trên bộ tiểu thuyết Shinobi no Mono nổi tiếng có nhắc đến tên rất nhiều loại kiếm mà Ninja xưa hay dùng như Ninjato, Ninjaken, Shinobi Katana. Các nhà sử học tin rằng, khi thực hiện nhiệm vụ, Ninja sẽ mang theo một thanh Ninjato, vài chiếc Shuriken, một sợi Kusari-fundo và liềm xích Kusarigama, song những vũ khí này có thể thay đổi tùy vào nhiệm vụ. Hiện những thanh kiếm của Ninja đang được trưng bày tại các bảo tàng trên đất Nhật Bản.

                                                                                                                                            Nguồn : thegioivothuat.net

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

đăng 01:22, 24 thg 9, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Võ thuật Nhật Bản có thể chia làm hai nhóm lớn  – các kỹ thuật võ nghệ Cổ truyền được truyền lại qua nhiều thế kỷ và Võ đạo ngày nay, được tập như các môn thể thao. Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản để thấy nét đặc trưng của một nền văn hóa võ thuật.

Karate (Không Thủ Đạo)

Karate có cả các thế tấn công và tự vệ . Các kỹ thuật tấn công gồm có đánh, đấm, và đá. Lại có những kỹ thuật phòng vệ tương ứng để đánh bạt những thế tấn công này. Hình thức thi đáu có thể là một loạt bài quyền Kata biểu diễn nhiều kỹ thuật khác nhau hoặc công thủ tự do. Một số võ đường Karate không tập một bài quyền Kata nào cả. Karate vốn là một môn quyền cước Trung Quốc được phát triển trên đất Nhật tại Okinawa .

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

Karate (Không Thủ Đạo)

Ngày xưa chỉ có người ở Okinawa luyện tập môn này. Sau cuộc Canh tân Minh Trị ( 1868 ) Karate được phổ biến khắp Nhật Bản và sau Đệ nhị Thế chiến , truyền đến các nước khác . Karate có hơn 3.000.000 môn sinh tại Nhật và khoảng 30.000.000 người trên khắp Thế giới.

Naginata (Múa Kích)

Naginata ( Kích ) là một cây gậy dài có một lưỡi cong nhọn ở đầu . Ngày xưa nó được dùng trong chiến tranh, rồi được các bà trong các gia đình Samurai dùng để tự vệ vào thời Edo ( 1603 – 1867 ), vì đây là một môn võ thuật cần phải học của giai cấp này . Ngày nay , hầu như chỉ có phụ nữ tập môn này . Khoảng 55.000 người đã đạt một đẳng cấp nào đó trong môn thể thao này.

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

Kích dùng trong thi đấu dài khoảng 215 đến 225 cm

Có hai loại thi đấu : Trong một loại , các đấu thủ đánh vào những vùng nào đó của đối phương thì được tính điểm . Những chỗ này được bảo vệ bằng mặt nạ , găng tay , và các giáp ở ngực , eo và ống chân . Còn trong loại kia , những người dự thi sẽ biểu diễn một số bài quyền Kata theo một trình tự quy định. Kích dùng trong thi đấu dài khoảng 215 đến 225 cm . Một điều chú ý khác là : Trong khi thi đấu , các võ sinh dùng kích có gắn lưỡi bằng tre còn trong các bài biểu diễn Kata thì dùng kích có gắn lưỡi làm bằng gỗ sồi.

Kendo (Kiếm Đạo)

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

Cũng như kiếm thuật phương Tây, kiếm thuật cổ truyền Nhật Bản đã trở thành một môn thể thao hiện đại.

Kiếm đạo là một môn thể thao tranh tài . Đánh vào những vùng nào đó của đối phương thì được tính điểm , người thi đấu dùng một cây kiếm tre ( shinai ) dài tối đa 118 cm . Các kiếm sĩ dùng bốn loại dụng cụ để bảo vệ thân thể – một cái Men (Mặt nạ ) , một cái Do ( Giáp ngực ) , hai cái Kote ( vật bảo vệ bàn tay và ống tay), và một cái Tare ( Giáp eo). Cũng như kiếm thuật phương Tây, kiếm thuật cổ truyền Nhật Bản đã trở thành một môn thể thao hiện đại. Các kiếm sĩ Tây phương cầm kiếm thép bằng một tay, còn các kiếm sĩ Nhật cầm kiếm tre Shinai bằng cả hai tay.

Aikido (Hiệp Khí Đạo)

Hiệp Khí Đạo được Sáng tổ Ueshiba Morihei hệ thống hóa năm 1922 dựa trên những kỹ thuật của chi phái Daito Aiki (Đại Đông Hiệp Khí ) của môn Nhu thuật. Mục tiêu là để chống trả một cuộc tấn công bằng chính sức mạnh của đối phương . Nhiều thế võ cần phải sử dụng tay chân như khóa ngoặc cổ tay, cùi tay , hoặc một khớp nào khác của đối phương, rồi ném hoặc đè anh ta xuống .

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

Hiệp khí đạo được nữ giới và những người lớn tuối yêu thích vì nó là một nghệ thuật tự vệ ít dùng sức

Những kỹ thuật này có thể gây nguy hiểm, vì thế khi luyện tập phải theo đúng trình tự quy định . Ít khi có những cuộc thi đấu. Hiệp khí đạo được nữ giới và những người lớn tuối yêu thích vì nó là một nghệ thuật tự vệ ít dùng sức . Có khoảng 600.000 người tại Nhật và 1.200.000 người tại nước ngoài luyện tập môn võ công này.

 Shorinji Kempo (Thiếu Lâm Nhật Bản)

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

Có khoảng 1.300.000 người Nhật và 150.000 người ở các nước khác luyện tập môn võ Thiếu Lâm Nhật Bản.

Shorinji Kempo do Michiomi theo học các kỹ thuật chiến đấu của các Võ tăng ở chùa Thiếu Lâm, một chùa Thiền Tông tại Trung Quốc, rồi phát triển các kỹ thuật này thành một môn võ công mới sau Đệ nhị Thế chiến.Các võ sĩ dùng kỹ thuật lien quan đến tay chân như chưởng và cước.

Trong lúc luyện tập có dụng cụ bảo vệ thân thể và các võ sinh có thể tự do tấn công và tự vệ. Khi thi đáu , các võ sinh mặc võ phục như các vị sư Thiền Tông ( vì việc luyện tập này được xem là một phần tu thiền) và chỉ biểu diễn cá thế Kata . Có khoảng 1.300.000 người Nhật và 150.000 người ở các nước khác luyện tập môn võ Thiếu Lâm Nhật Bản.

Judo (Nhu Đạo)

Năm 1882, Kano Jigoro sáng lập môn Nhu đạo dựa trên môn Jujutsu ( Nhu thuật ) cổ truyền.

Nhìn lại các môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

Năm 1882, Kano Jigoro sáng lập môn Nhu đạo dựa trên môn Jujutsu ( Nhu thuật ) cổ truyền.

Nhu Đạo là một hình thức chiến đấu không dùng vũ khí , chế ngự đối phương bằng những kỹ thuật như ném , đè , nắm chặt , hoặc khóa các khớp xương. Điểm khác biệt lớn nhất giữa Nhu Đạo và Nhu thuật là, trong Nhu thuật, các đấu thủ được phép đấm, đá , và xô đối phương , trong khi ở Nhu đạo những động tác này bị cấm vì nguy hiểm .

Nhu đạo trở thành một môn Thể thao Olympic năm 1964 , đúng dịp Thế vận hội 1964 tại Tokyo. Khoảng 1,5 triệu người Nhật có đẳng cấp, và có chừng 20 triệu người luyện tập nhu đạo trên khắp thế giới .

Sưu tầm

Hé lộ tuyệt kỹ công phu điểm huyệt

đăng 11:47, 1 thg 9, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Trong truyện kiếm hiệp, công phu điểm huyệt được mô tả như là một thủ pháp làm cho địch thủ toàn thân tê cứng không nhúc nhích được. Thực hư môn công phu huyền thoại này là thế nào?

1. Điểm huyệt và giải huyệt

Có một điều phải nói rõ từ đầu rằng điểm huyệt cũng chỉ là một môn trong rừng võ với rất nhiều hoa thơm cỏ lạ của các nhà các phái. Sở dĩ nó hiện lên lung linh huyền ảo trong suy nghĩ của quần chúng là do bị ảnh hưởng bởi truyện và phim kiếm hiệp.

Võ thuật là một phần của văn hóa, là phương tiện hun đúc ý chí tinh thần của một dân tộc. Tuy nhiên, nó kém may mắn hơn các thành phần khác như văn học, thơ ca, lịch sử… ở chỗ không được biên chép vào sử sách một cách chi tiết. Thêm vào đó, các môn các phái thường giữ bí mật một vài tuyệt kỹ, chỉ truyền miệng từ thày cho trò mà không phổ biến rộng rãi. Bởi những lý do như thế nên rất nhiều môn võ hiện nay không thể biết đích xác ai là người sáng tạo và có từ bao giờ. Phép điểm huyệt cũng trong tình trạng như vậy.

Hé lộ tuyệt kỹ công phu điểm huyệt

Điểm huyệt là dùng những bộ phận có diện tích tiếp xúc nhỏ của cơ thể con người như đầu ngón tay, đầu ngón chân…

Qua phim ảnh, quần chúng chỉ biết đến phép điểm huyệt với hình ảnh dùng một ngón tay điểm lên cơ thể con người. Tuy nhiên, lý luận võ học về môn điểm huyệt phong phú hơn nhiều. Theo võ sư Hồ Tường, thuật điểm huyệt gồm các kỹ thuật: Điểm huyệt, đả huyệt, nã huyệt, bế huyệt và giải huyệt.

Điểm huyệt là dùng những bộ phận có diện tích tiếp xúc nhỏ của cơ thể con người như đầu ngón tay, đầu ngón chân… đã được luyện tập cho cứng rắn, điểm chính xác vào vị trí của huyệt đạo với một tốc độ và cường lực đủ để bế tắc huyệt đạo đó, gây đau đớn tê bại tạm thời hoặc thậm chí làm tật nguyền, thiệt mạng kẻ bị điểm tùy vào vị trí huyệt bị điểm.

Đả huyệt là dùng bộ phận có diện tích tiếp xúc lớn của con người như nắm đấm, cạnh bàn tay, đầu gối… đã được luyện tập cứng rắn để đánh vào các huyệt đạo. So với điểm huyệt thì đả huyệt dễ thực hiện hơn. Trong cuộc sống hàng ngày có nhiều khi người ta đã ngộ sát một người nào đó vì vô tình đánh trúng tử huyệt của họ. Những trường hợp đó chính là đã vô tình sử dụng phép đả huyệt này.

Ngoài ra còn có nã huyệt là dùng các ngón tay bấu vào các huyệt đạo gây đau đớn buộc đối phương phải dừng chiến. Thường ngày nếu ai đó khỏe mạnh bóp vào cổ tay hoặc dùng ngón trỏ và ngón cái mà bấu vào chỗ hổ khẩu thì chúng ta cũng thấy đau đớn lắm rồi. Đây chính là phép nã huyệt.

Bế huyệt là tấn công vào huyệt đạo gây sự tắc nghẽn lưu thông khí huyết, tạo tình huống mất ý thức, mất khả năng chiến đấu. Cuối cùng là giải huyệt, dùng các thủ pháp như bấm, xoa, day… trên vùng huyệt đạo bị tổn thương, tạo sự hồi phục bình thường. Theo như lý thuyết trên thì có lẽ những người làm nghề tẩm quất đang sử dụng một phần kỹ thuật giải huyệt nhằm làm cho khí huyết lưu thông tuần hoàn, giúp người được tẩm quất cảm thấy sảng khoái hơn.

Võ sư Hồ Tường khi viết cuốn Tìm hiểu võ thuật Việt Nam đã dẫn ra vài ba quan điểm về nguồn gốc của môn điểm huyệt. Theo đó có người cho môn này là do Bồ Đề Đạt Ma mang từ Ấn Độ sang. Có người lại nói rằng nó vốn đã có từ thời thượng cổ ở Trung Quốc vì sách Hoàng Đế nội kinh từ 2000 năm trước Công nguyên đã có vẽ đồ hình 108 huyệt trên cơ thể con người. Trong khi đó, võ sư Hàng Thanh cho rằng môn điểm huyệt chỉ ra đời từ lúc các võ gia kết hợp được võ thuật với môn châm cứu trong y học.

Dù lai lịch còn nhiều điều bàn cãi nhưng các sách thuộc các môn các phái khác nhau đều thống nhất về con số 108 là số lượng các huyệt đạo trên cơ thể con người. Huyệt đạo theo định nghĩa của võ thuật và y học phương Đông, là những điểm nhỏ li ti trên thân thể con người. Nó là giao điểm của các đường kinh mạch trong cơ thể, có liên quan trực tiếp đến các cơ quan trong cơ thể. Do vậy, bất cứ một sự tác động nào vào các huyệt đạo đều gây ra phản ứng tức thì trên hệ thần kinh.

Trong số 108 huyệt đạo thì người ta chia ra thành 3 loại: Tử huyệt, Ma huyệt, Sinh huyệt. Tử huyệt là những vị trí yếu hại trên cơ thể người, khi đánh vào đó thì gây phản ứng tức khắc, có thể dẫn đến tử vong. Ma huyệt là những huyệt khi bị đả hoặc điểm trúng thì đau đớn, tê bại, hoặc bất tỉnh nhân sự nhưng không chết. Còn sinh huyệt là những huyệt cứu sống hay cứu tỉnh khi bị đả hay điểm trúng tử huyệt hay ma huyệt.

2. Điểm huyệt hại người có dễ?

Cứ theo như những gì trình bày ở trên thì thuật điểm huyệt quả là một môn võ vô cùng lợi hại. Chỉ cần chạm được tới người địch thủ là làm chủ được trận đấu. Tuy nhiên, trong thực tế, sử dụng được thủ pháp này không phải dễ.

Không nói tới việc các đối tượng luôn luôn di động trong một trận đấu võ, rất khó để tiếp cận mà điểm huyệt thì bản thân người sử dụng thuật này gặp phải ít nhất 2 rào cản rất lớn. Trước hết, muốn điểm được huyệt thì các bộ phận dùng để điểm phải được luyện tập cho thật cứng rắn. Muốn dùng ngón tay điểm huyệt thì ngón tay phải được luyện tập cho cứng như cái dùi sắt mới có thể dùng được.

Rào cản thứ hai là khả năng nhận biết huyệt của người sử dụng thuật điểm huyệt. Một võ gia muốn điểm được huyệt người khác thì trước hết phải làu thông vị trí huyệt đạo. Trước tiên phải học về huyệt đạo rồi tích cực vẽ đồ hình cơ thể và chấm chính xác vị trí các huyệt đạo lên đó. Sau đó phải nhìn qua là chỉ đúng vị trí huyệt đạo trên cơ thể người đứng đối diện thì mới coi là đạt yêu cầu.

Hé lộ tuyệt kỹ công phu điểm huyệt

Trong truyện kiếm hiệp, phép điểm huyệt được mô tả như là một thủ pháp làm cho địch thủ toàn thân tê cứng không nhúc nhích được.

Mặc dù vậy trong thực tế chiến đấu, đối phương luôn luôn vận động di chuyển nên rất khó để nhận biết chính xác. Mặc khác theo quan niệm phương Đông, huyệt đạo trong cơ thể người có quan hệ với sự vận động thời tiết của vũ trụ. Nội trong 1 ngày thì sự lưu chuyển khí lực trong cơ thể con người cũng đã thay đổi liên tục. Các huyệt mở đóng tùy từng thời điểm khác nhau. Do vậy có khi có điểm trúng cũng không gây được hiệu quả mong muốn.

Sưu tầm

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

đăng 23:07, 18 thg 8, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Chiều ngày 14/8, ngôi sao võ thuật Cung Lê có buổi giao lưu với người hâm mộ yêu thích võ thuật Việt Nam nói chung và võ đài UFC – MMA nói riêng tại TP HCM. Đã có rất nhiều người hâm mộ võ thuật tới tham dự.

Cung Lê cùng huấn luyện viên người nước ngoài của mình đã biểu diễn một số kỹ thuật đặc trưng của MMA. Anh trình diễn các kĩ thuật ra đòn, phòng thủ, cách hít thở sao cho hiệu quả trong mỗi trận đấu…

Cung Lê chia sẻ thêm với fan về chế độ tập luyện để có cơ thể khỏe mạnh cũng như duy trì phong độ ổn định cho những trận quyết đấu khốc liệt trên võ đài UFC. Theo đó, buổi sáng Cung Lê thức dậy rất sớm, sau đó tới phòng tập với các bài tập tạ nhẹ, nâng lốp ô tô…. Buổi chiều anh tập đấm bao và một số bài tập bổ sung khác. Thời gian chính trong ngày của Cung Lê là tập luyện và tập luyện.

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Cung Lê chia sẻ một số kĩ thuật, kinh nghiệm tập luyện, thi đấu với khán giả tại TP HCM

Là một võ sĩ chuyên nghiệp, một tuần Cung Lê được ăn hai buổi những đồ ăn mình thích như pizza, chocolate…., còn lại anh phải ăn uống theo giáo án của huấn luyện viên.

Khi được hỏi là đối thủ lớn nhất của Cung Lê là ai thì võ sỹ này chia sẻ đó chính là… bản thân Cung Lê. Theo anh, nếu Cung Lê suy nghĩ mình có thể chiến thắng người khác thì anh sẽ có cơ hội giành chiến thắng. Khi tập luyện, thi đấu, Cung Lê luôn có suy nghĩ rằng khi lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh. Từ đó anh sẽ càng nung nấu thêm ý chí để dồn sức cho những lần thượng đài của mình. Ngày 23/8 tới đây Cung Lê sẽ chứng minh điều mình nói với đối thủ Michael Bisping .

Về Michael Bisping, Cung Lê cho biết đã xem rất nhiều video của “kình địch”, để từ đó nghiên cứu cách đánh, điểm mạnh, điểm yếu của đối phương, đưa ra chiến thuật hợp lý cho các hiệp đấu sắp tới. Được biết đối thủ của Cung Lê chơi đầy sức mạnh, và Michael Bisping được nhận định đánh hiệp 5 cũng như hiệp 1.

Kết thúc buổi giao lưu Cung Lê đã chụp hình chung, kí tặng người hâm mộ.

Dưới đây là hình ảnh Cung Lê giao lưu với fan tại TP HCM ngày 14/8:

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Có khá đông người hâm mộ yêu thích võ thuật tại TP HCM tới tham dự

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Cung Lê và huấn luyện viên của mình biểu diễn, giải đáp thắc mắc về các đòn thế để mọi người có thể hiểu sâu hơn

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Làm sao ra đòn hiệu quả, tránh né đối phương

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Cung Lê có thể chơi linh hoạt, kết hợp giữa các cú đá, đấm thẳng, móc từ dưới lên và những cú móc ngang

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Cung Lê nhiệt tình chia sẻ và hướng dẫn mọi người

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Một số người nước ngoài yêu thích võ thuật cũng tới tham dự

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Chụp hình chung với người hâm mộ

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Mọi người thích thú được Cung Lê kí tặng

Với Cung Lê: lên võ đài một là đánh, hai là bị đánh

Một số fan đã chuẩn bị sẵn găng đấm của UFC để Cung Lê kí tặng lên đó

Nguồn  Khampha.vn


Liên hoan võ cổ truyền Bình Định

đăng 23:49, 24 thg 7, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Liên hoan võ cổ truyền lần thứ V- Bình Định 2014 được Bộ VH-TT&DL phối hợp với UBND tỉnh Bình Định tổ chức họp báo công bố chuỗi các hoạt động tại Liên hoan quốc tế võ cổ truyền Việt Nam tại Hà Nội.

Liên hoan võ cổ truyền Bình Định

Dự kiến, Liên hoan thu hút khoảng 50 đoàn quốc tế đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như: Pháp, Mỹ, Đức, Anh, Nga, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Nhật, Áo, Nauy… Thành viên của các đoàn quốc tế đều là các môn sinh đang học tập và nghiên cứu về môn phái võ Bình Định thuộc các dòng võ tiêu biểu như: Tinh võ đạo, Tráng sĩ đạo, Việt võ đạo, Lam Sơn võ đạo, Vovinam…

Với chủ đề “Bảo tồn và phát huy võ cổ truyền Việt Nam”, Liên hoan sẽ bao gồm các hoạt động như công bố võ cổ truyền Bình Định là Di sản phi vật thể quốc gia, biểu diễn, thi đấu, lễ hội đường phố, bình chọn người đẹp võ cổ truyền, giao lưu giữa các võ đường. Đặc biệt, các môn sinh trong nước và quốc tế sẽ làm lễ dâng hương tưởng nhớ công đức người đã sáng lập ra môn phái, các văn thần, võ tướng phong trào Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung và Đàn tế trời đất. Chương trình diễn ra từ ngày 1 đến ngày 4-8 tại TP Quy Nhơn.

Nguồn: Quỳnh Vân – Báo An ninh Thủ đô

Tuyệt chiêu “rắn độc xem trăng” và bí kíp của võ sư Phan Thọ

đăng 08:28, 17 thg 7, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Võ đường Phan Thọ được xem là nơi kế thừa các di sản võ học đồ sộ, phát huy các tinh hoa võ thuật của môn phái quyền An Vinh (Tây Sơn, Bình Định). Từ đó, hình thành nên “Thập bát ban binh khí” với 18 môn binh khí của 54 bài múa võ mà chưa một môn phái nào có được.

Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh

Vượt hơn 700km từ TP.HCM ra huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, chúng tôi mong muốn được diện kiến vị võ sư nổi danh Phan Thọ với các thế võ bất tử. Nhưng thật không may, người nhà cho biết võ sư Phan Thọ đã tạ thế cách đây không lâu. Tiếp chuyện chúng tôi, võ sư Phan Thanh Sơn (con trai thứ hai của cố võ sư Phan Thọ) nghẹn ngào khi nói về sự ra đi của thân sinh. Võ sư Phan Thanh Sơn cho biết: “Quy luật sinh, lão, bệnh, tử của đời người không ai tránh khỏi. Cả cuộc đời cụ đã hy sinh cho võ thuật cổ truyền, cụ ra đi không có điều gì hối tiếc. Chúng tôi là thế hệ hậu sinh, quyết sẽ tiếp tục gìn giữ và phát huy những giá trị mà cụ đã cất công vun đắp cả cuộc đời”.
Ông Phan Thọ (SN 1926, ngụ thôn Thủ Thiện Thượng, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) được giới cao thủ võ lâm mệnh danh là người có bộ tay hay nhất Bình Định dù đến năm 17 tuổi ông mới học võ. Tuy nhiên, ông vô cùng đam mê. Chính niềm đam mê đó đã thôi thúc ông phiêu bạt khắp nơi để tìm thầy dạy võ. Khi nghe đến “roi Thuận Truyền, quyền An Vinh” thì ông đã quyết  tìm đến An Vinh để theo học quyền thuật của thầy Cai Bảy. Học quyền thuật được năm năm, ông lại tiếp tục tìm đến võ sư Diệp Trường Phát (còn gọi là Tàu Sáu) để học kiếm pháp. Sau đó ông lại tìm đến đại đồ đệ của võ sư Hồ Ngạnh là thầy Châu để học về côn… Vì thế, ông không chỉ tinh thông về quyền thuật, mà còn giỏi cả kiếm pháp và các thế côn.
Tuyệt chiêu rắn độc xem trăng và bí kíp của võ sư Phan Thọ
Mỗi khi võ sư Phan Thọ đi quyền, người ta thấy được cái cốt lõi võ học lộ ra trong những đường chuyển động mà ở đó bao hàm cả sự cao siêu lẫn giản dị như những lẽ phải trong cuộc sống đời thường. Chính những năm tháng bôn ba “tầm sư học võ”, võ sư Phan Thọ đã tập hợp được nhiều nét tinh hoa của võ Bình Định. Ngoài ra, với cá tính mạnh và thêm “tính tự ái dân tộc”, ông không bao giờ chấp nhận ai coi thường võ của dân tộc mình. Vì vậy, ông đã nhiều lần “phiêu lưu” cả tính mạng, để “khẳng định” võ Bình Định không thua kém ai. Chính những lần tỉ thí đó,  khiến nhiều người ngả mũ thán phục tài năng của ông.
Theo nhiều người dân kể lại, khi ông còn là một thanh niên mới tập tành học các thế võ. Một buổi trưa có người làng hớt hải chạy về báo tin có một con heo rừng rất hung hãn từ trên núi xuống phá mía, lúa của dân làng, nó còn tấn công cả người nữa. Không kịp mặc áo, ông lấy cây đòn gánh (cây gậy làm bằng nguyên một gốc tre được ông dùng để luyện võ) chạy ra đồng. Một cuộc tử chiến vô cùng ác liệt giữa người và mãnh thú diễn ra. Con heo hung hăng xông vào húc Phan Thọ, còn ông thì nhanh nhẹn né tránh, đồng thời vung những đòn búa bổ vào đầu, vào lưng nó. Dân làng kéo ra xem đông như trẩy hội. Cứ thế, người và heo quần nhau một ngày, một đêm. Cuối cùng, con heo đã bị ông khuất phục, dân làng hồ hởi kéo heo về nướng ăn. Sau cuộc chiến sinh tử để đời đó, thành quả mà ông nhận được chính là bộ răng nanh dài quá khổ của “đối phương”.
Năm 1972, một võ sư taekwondo đệ ngũ đẳng huyền đai, vốn là một sỹ quan quân đội Nam Hàn Quốc tìm đến ông gửi lời khiêu chiến. Bị “áp đáo tại gia”, dù mến khách nhưng không có cách nào khác, ông phải nhận lời. Lúc ấy, sàn đài đã tháo dây. Võ sư Phan Thọ chỉ 58kg còn viên sỹ quan kia to cao, nặng trên 80kg. Mới xáp vào là đối thủ động thủ liền. Biết được thế mạnh của taekwondo là các đòn chân, võ sư Phan Thọ cứ để viên sỹ quan ra chân thoải mái. Đối phương tung chân vun vút chừng mấy chục cái, còn ông sử dụng chiêu Độc xà thám nguyệt “lặn” qua háng và húc thẳng vào bộ hạ làm đối phương té nhào chết điếng. Võ sỹ Hàn Quốc ngã đập mặt xuống đất, máu chảy nhiều, nên xin ngừng trận đấu. Sau lần đó, rất nhiều võ sỹ của nhiều nước trên thế giới đã tìm đến ông để thi đấu. Tuy nhiên, trăm trận ông đều thắng cả trăm.

Bí kíp chân truyền, cao nhân ẩn tích
Nghe kể về những chiến công ngang dọc của vị võ sư vang danh Phan Thọ, cứ tưởng rằng ông xa vời như các vị thần “cao nhân ẩn tích”. Nhưng đối với những võ sinh trong võ đường Phan Thọ, cũng như người dân xung quanh, thầy Thọ luôn là người dễ gần cởi mở, không bao giờ mắng hay thể hiện uy quyền của mình. Khi các môn sinh của mình làm sai, ông không bao giờ nói nặng lời. Bởi vậy, có nhiều bậc phụ huynh trong xã cũng như nhiều xã khác đã đến gửi gắm con em mình cho võ sư Thọ. Trong số ấy có nhiều trò đã thành danh, lập võ đường ở nhiều nơi trên khắp cả nước.
Võ sư Phan Thanh Sơn (con trai của võ sư Phan Thọ) thổ lộ: “Cha tập tấn cho tôi, dạy võ cho tôi từ khi còn bé. Đối với ông cái quan trọng nhất của võ thuật không phải là các thế võ mà đó chính là tâm đức. Bởi người giỏi võ mà không có đức thì vô cùng nguy hiểm. Khi biết mình không qua khỏi, ông gọi mỗi người con trong gia đình của mình lại để trăng trối. Với người khác thì tôi không biết ông nói gì, nhưng với tôi, ông bảo: “Đối với võ học, ngoài cái tài ra thì cái đức là vô cùng quan trọng. Nếu không giữ được tâm đức thì võ thuật cũng không còn giá trị nữa. Theo như lẽ thường, ta sẽ giao toàn bộ võ đường cho anh Hai (người miền Nam gọi người con sinh ra đầu tiên là Hai -PV) của con quản lý. Nhưng bản thân ta thấy con có đầy đủ tố chất, cũng như trong phối ngoài hợp để giúp cho võ đường tiếp tục phát triển. Vì vậy, con hãy thay cha gìn giữ lấy nó”.
“Cách đây khoảng bốn, năm năm, vào một buổi tối khuya khoắt, khi mọi người đã yên giấc nồng, cha có gọi tôi đến. Vẻ mặt ông cụ cũng trầm tư như chính hôm ông sắp ra đi. Hôm đó, sau khi gọi tôi đến, ông có thắp lên ba cây nhang (hương cúng) và bắt tôi phải thề rằng những gì hôm nay cụ nói với tôi, dạy tôi phải tuyệt đối giữ bí mật cho tới khi nào cụ mất. Sau khi đã thắp nhang cúng vái, cụ dạy cho tôi các thế võ được xem là bí kíp gia truyền của võ đường Phan Thọ. Các thế võ mà cụ truyền dạy cho tôi không phải chỉ có con em trong gia tộc Phan Thọ mới được học. Cụ bảo tôi có thể truyền dạy cho bất kể người nào, nhưng người đó phải hội tụ đủ các tiềm năng phát triển võ thuật cũng như tài đức. Có lẽ, lúc đó, cụ đã biết sức khỏe của mình diễn tiến như thế nào nên căn dặn như vậy”, võ sư Phan Thanh Sơn nhớ lại.
Bùi ngùi trong niềm xúc động, võ sư Phan Thanh Sơn cho biết thêm: “Lúc đó, tôi chỉ biết cúi đầu nhận lời, mong cha ra đi thanh thản chứ không nghĩ ngợi gì. Sau khi lo xong chuyện hậu sự cho cha, mẹ tôi mới gọi tôi đến và giao cho tôi một cái hòm. Trong đó chính là toàn bộ giấy tờ, sách sổ ghi chép về các thế võ cũng như các bí kíp võ công, các bài thuốc mà cha tôi cất giữ bấy lâu. Mẹ tôi bảo: “Đây là cơ nghiệp cả đời của cha con, ông đã giao nó cho con, con hãy giữ lấy và tiếp tục phát triển nó”. Biết cha gửi việc trọng đại cho mình, thời gian qua, việc tang sự rối ren nên tôi vẫn chưa thu xếp được. Tôi dự định, sau khi làm lễ cúng 49 ngày cho cụ, sẽ mời các môn đồ đến thông báo”.
Bí kíp “Thập bát ban binh khí” của võ đường Phan Thọ
“Thập bát ban binh khí” bao gồm 18 môn tương ứng với 18 loại binh khí gồm: Côn, kiếm, đao, thương, giáo, kích, xà mâu, đinh ba, bồ cào, thiết bản, song tô, song xỉ, song câu, bút, phủ (búa), chùy, cung tên, lăn khiên và 54 bài múa võ, chỉ có võ đường Phan Thọ duy nhất sở hữu.
Theo: Đời sống & Pháp luật

Cửu đẳng huyền đai Karatedo võ sư Lê Văn Thạnh

đăng 07:03, 17 thg 6, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Lê Văn Thạnh sinh 1949, là một võ sư Karate người Việt Nam. Ông hiện mang cửu đẳng huyền đai Karatedo Suzucho Ryu, ngũ đẳng huyền đai Karatedo Shotokan Ryu. Ông cũng là người đầu tiên và duy nhất có 4 nhiệm kỳ giữ chức Trưởng tràng Hệ phái Suzucho Karatedo.

Võ sư Lê Văn Thạnh

Võ sư Lê Văn Thạnh

Thân thế và võ nghiệp

Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1949 tại phường Phú Cát, thành phố Huế. Chịu ảnh hưởng của thân phụ, từng là một võ sĩ quyền Anh, cùng thời với các võ sư Minh Cảnh, Vĩnh Tiên, ông sớm bộc lộ sự quan tâm đặc biệt đến việc tập luyện võ thuật với những bước cơ bản học từ thân phụ.

Năm 15 tuổi, ông tham gia luyện tập môn Karatedo và Judo tại võ đường của Võ sư Suzuki Choji – số 8 Võ Tánh, Huế.

Tháng 6 năm 1964, Võ sư Suzuki Choji mở một khóa đào tạo mang tên Bodankumi. Đây là khóa học đặc biệt chỉ gồm 7 người, giờ tập được nâng lên gấp đôi bình thường với mục đích truyền tải tất cả tinh hoa võ học Karate nhằm xây dựng thế hệ huấn luyện viên chủ chốt cho tương lai (Bodankumi là tên một loại hoa ở Nhật mà mỗi cây chỉ có một hoa, rất quý), Tuy nhiên sau này do nhiều điều kiện khách quan mà chỉ còn mỗi Võ sư Lê Văn Thạnh là người tiếp nối được bước đi của Tổ sư Suzuki Choji cho đến tận hôm nay.

Tháng 3 năm 1973, ông lần đầu tiên được chưởng môn Suzuki chọn làm Trưởng tràng đời thứ 8 của Hệ phái trông coi võ đường Suzucho tại Huế trong lúc Võ sư Suzuki đi phát triển Karatedo tại Đà Nẵng và các tỉnh thành khác.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, các sinh hoạt võ thuật bị hạn chế hoạt động, võ đường Suzucho không còn sinh hoạt nữa. Chưởng môn Suzuki và gia đình đã vào thành phố Hồ Chí Minh và hồi hương trở về Nhật Bản vào năm 1978.

Những người học trò của tổ sư Suzuki vì nhiều lý do nên mỗi người đi một phương, dù vậy ở Huế vẫn còn nhiều môn đồ. Trên cương vị, trách nhiệm của Trưởng tràng, Võ sư Lê Văn Thạnh đã vừa tham gia vào đội Võ thuật xung kích của Thành phố Huế, vừa phát triển phong trào Karate tại địa phương và vừa đi các Tỉnh, Thành để vận động, động viên những môn đồ của Thầy Suzuki cố gắng sinh hoạt, phát triển Karatedo tại địa bàn nơi mình cư trú và làm việc.

Năm 1978, Võ đường Bodankumi được thành lập ngay tại nhà võ sư Lê Văn Thạnh (số cũ 116 Chi Lăng – Huế) và cũng từ nơi đây đã đào tạo ra nhiều môn đồ của Hệ phái, trong đó có những người đã là Huấn luyện viên của đội tuyển Karatedo Quốc gia và rất nhiều người là Trưởng bộ môn Suzucho Karatedo của các Tỉnh, Thành, Ngành.

Năm 1984, ông Hoàng Vĩnh Giang lúc đó với tư cách là Phó giám đốc Sở TDTT Hà Nội đã có thư mời Võ sư Lê Văn Thạnh ra giúp cho Hà Nội phát triển môn võ này. Vào thời gian này, Ông đã hỗ trợ huấn luyện cho gần 10 người, trong đó có những người sau này làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia như Đoàn Đình Long, Lê Công. Trong thời gian đó ông vẫn thỉnh thoảng ra vào các tỉnh miền trung và miền nam như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đồng Nai để tiếp nối bước Thầy mình giúp phát triển các võ đường Suzucho KarateDo.

Năm 1992, đội tuyển Karatedo Việt Nam đầu tiên được chính thức thành lập. Ông được mời tham gia Ban huấn luyện đầu tiên của đội tuyển, với tư cách là Huấn luyện viên Đội tuyển Karatedo Việt Nam.

Năm 1994, Đại hội đại biểu Liên đoàn Karatedo Việt Nam lần 2 được tổ chức. Ông được bầu vào Ban chấp hành lâm thời của Liên đoàn với tư cách là Phó chủ tịch đặc trách miền Trung.
Một trong những thế hệ học trò đầu của võ sư Lê Văn Thạnh (ảnh chụp tại võ đường Bodankumi)

Hiện nay, Võ sư Lê Văn Thạnh vẫn tiếp tục đào tạo huấn luyện môn sinh Suzucho theo hệ truyền thống tại võ đường riêng (BodanKumi Dojo) đồng thời hỗ trợ huấn luyện cho một số võ đường khác tại Huế như bộ môn Karatedo của tỉnh TT Huế, võ đường Gakusei, võ đường Nhân Ái, trung tâm thể thao TP Huế vv… nhằm mục đích tìm kiếm, đào tạo các nhân tố có năng khiếu thi đấu thể thao cho đội tuyển Karate Thừa thiên Huế và Quốc gia.

Thời gian còn lại ông tập trung cho công tác nghiên cứu các kỹ thuật Karate truyền thống của Nhật bản cũng như Karate hiện đại của Thế giới nhằm bổ sung, phát triển phong phú thêm cho các kỹ thuật của hệ phái Suzucho. Tháng 9 năm 2007, được sự đồng ý của Chưởng môn Tokuo Suzuki ông đã cho xuất bản 2 tập sách “Giáo trình chuẩn hóa kỹ thuật – quyền pháp Suzucho Karatedo” và đã được sự đón nhận của đông đảo những bạn đọc yêu thích võ thuật nói chung và Karatedo nói riêng.

Tháng 1 năm 2012, ông được Chưởng môn Tokuo Suzuki, phong huyền đai cửu đẳng, đẳng cấp cao nhất của hệ phái.

Nguồn: wikipedia

Võ thuật Việt Nam: Linh khí trời Nam trong dòng chảy lịch sử dựng nước, giữ nước

đăng 07:18, 8 thg 6, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Từ thuở sơ khai lập quốc cho đến ngày nay, võ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, hấp thụ tinh khí trời đất, vượng khí quốc gia để sáng tạo nên những môn phái lẫy lừng, góp phần trong việc dựng nước, giữ nước, chống giặc ngoại xâm.

Từ thuở sơ khai lập quốc cho đến ngày nay, võ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, hấp thụ tinh khí trời đất, vượng khí quốc gia để sáng tạo nên những môn phái lẫy lừng, ngoài ra còn giao lưu với nhiều môn phái của các quốc gia lân cận để từ đó hun đúc nên một nền võ thuật đa dạng, góp phần trong việc dựng nước, giữ nước, chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, võ Việt cũng làm nổi bật tinh thần thượng võ, đạo đức cao cả của dân tộc Việt.

Bài 1: Phát triển cùng dòng chảy lịch sử dựng nước, giữ nước

Nhìn vào địa thế, lịch sử của Việt Nam, các quốc gia lân bang thường xuyên có sự tranh chấp, xâm lược, chúng ta thấy ngay nhu cầu tranh đấu để tồn tại bao giờ cũng được xếp hàng đầu, để hình thành và kiện toàn một nền võ học dân tộc.

Với lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, nền võ học Việt đã trải qua bao thăng trầm, thậm chí có lúc suy tàn bởi những định chế cấm đoán nghiêm ngặt của các triều đình Bắc thuộc. Tuy nhiên sau đó nó lại bùng phát mạnh mẽ bởi các cuộc nổi dậy đánh đuổi ngoại xâm của cha ông. Theo thời gian hình thành nên một nền võ Việt vô cùng đa dạng, phong phú, đề cao tinh thần thượng võ.

Võ thuật Việt Nam: Linh khí trời Nam trong dòng chảy lịch sử dựng nước, giữ nước

Các thế võ của bài Hùng Kê quyền trứ danh do Nguyễn Lữ- người em út của Tây Sơn Tam kiệt sáng tạo- được cố võ sư Ngô Bông (Quảng Ngãi) biểu diễn tại Liên hoan võ thuậttruyền thống thế giới Chungju (Hàn Quốc) năm 2004.

Cũng bởi quá trình phát triển thăng trầm và trải dài như vậy, nên trong khuôn khổ của một bài viết không thể đăng tải hết tường tận lịch sử phát triển võ Việt qua từng thời kỳ mà các bậc tiền nhân đã dày công tìm hiểu, ghi chép lại. Chúng tôi chỉ xin nhắc lại những thời điểm quan trọng, mang tính điểm nhấn của quá trình phát triển võ Việt.

Theo các chuyên gia nghiên cứu lịch sử võ thuật, 10 thời kỳ võ học Việt được quy định và phân biệt theo các mốc lớn của quốc gia:

Thời huyền sử: Chế độ thị tộc (2879-111 tr. CN; Thời Bắc thuộc (111 tr. CN – 906); Thời kỳ lập quốc Ngô, Đinh, Tiền Lê (906-1009); Thời kỳ Lý, Trần (1010-1341); Thời kỳ trung suy: Trần mạt, Hồ, Minh thuộc (1341-1427); Thời kỳ phục hưng: Hậu Lê, Mạc (1427-1540); Thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh (1540-1802); Thời kỳ thống nhất: Hậu Nguyễn (1802-1883); Thời kỳ Pháp thuộc (1883-1945); Thời kỳ hiện kim (1945 tới nay).

1. Võ học thời huyền sử – Chế độ thị tộc (2879-111 tr. CN):

Võ học trong thời huyền sử đã đi từ đơn đấu đến quần đấu, rồi thâm nhập vào binh pháp. Hiện tượng này khởi đầu bằng những cuộc giao đấu cá nhân (như truyền thuyết Lạc Long Quân đánh Ngư Tinh, Sơn Tinh đấu với Thủy Tinh) chuyển sang trường hợp “nhất hổ địch quần hồ” theo lối Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, rồi mới tới trình độ đưa võ học vào binh pháp như các trận đánh của An Dương Vương… Nhưng nhìn chung vẫn mang tính truyền thuyết…

2. Võ học thời Bắc thuộc (111 tr. CN. – 906):

Trong thời kỳ này, 2 phát kiến mới được hình thành: Quần chúng bị áp bức, thường có xu hướng hâm mộ những vị anh hùng đã giải thoát họ, như những vị hiệp sĩ, nữ kiệt và võ dũng, mở đầu cho sự kết hợp những lực lượng chống ngoại xâm.

Nhân vật điển hình trong thời kỳ này đều là những bậc võ dũng và có tài lãnh đạo quần chúng, như Triệu Quang Phục, Trưng Nữ Vương, Triệu Trinh Nương, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương…

Xu hướng phát triển chiến pháp “du kích chiến” và chiến pháp “lấy yếu chống mạnh, lấy ngắn chống dài” do các lực lượng nghĩa binh được kết hợp để chống quan quân nhà Hán. Triệu Quang Phục, người rút quân về Bãi Sậy (Hưng Yên) chống quân Hán được coi như vị thủy tổ du kích chiến của Việt Nam.

3. Thời kỳ lập quốc (906-1009):

Thời kỳ này bắt đầu từ họ Khúc (Khúc Thừa Dụ) dấy nghiệp tới chấm dứt nhà Tiền Lê khi võ học đã thâm nhập hẳn vào binh pháp và trở thành một yếu tố quyết định trong sự thành lập và duy trì sự tồn tại của quốc gia.

Tinh thần thành lập quốc gia được phôi thai từ họ Khúc, được thử thách quyết định bằng trận Bạch Đằng Giang năm 931 của Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán, và quốc gia trước nguy cơ sụp đổ vì nạn “Thập nhị Sứ quân” thì được Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan và thống nhất lại quốc gia.

Võ học hội nhập vào binh pháp trong thời kỳ này đã được nâng cao và phát triển mạnh mẽ về phương diện: Thủy chiến (thời Ngô Quyền), Bộ chiến (thời Đinh Bộ Lĩnh), Lâm chiến (thời Đinh Bộ Lĩnh-Lê Hoàn), Phối hợp tác chiến thủy bộ (Ngô Quyền-Đinh Bộ Lĩnh), Tổ chức quân đội (thời Đinh: mỗi “Đạo” quân gồm 100.000 binh sĩ. Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn chỉ huy 10 “Đạo”, là 1 triệu quân).

Võ thuật Việt Nam: Linh khí trời Nam trong dòng chảy lịch sử dựng nước, giữ nước

Công phu đặc dị của các môn sinh môn phái võ thuật cổ truyền Bình Định gia

4. Võ học trong thời kỳ Lý –Trần (1010-1341):

Trong suốt hai thời kỳ nhà Lý và nhà Trần từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14, Phật giáo trở thành Quốc giáo. Những phương thức nghiêm ngặt nhằm tự kiểm soát, hoàn thiện mình và rèn luyện những bí kíp về thần, khí, ý, lực đã giúp các nhà sư không chỉ am tường tôn giáo mà còn rất giỏi võ.

Thời Lý, các nhà sư thường tổ chức lễ hội ở chùa chiền và đền miếu, nơi có những hoạt động mang đậm tinh thần thượng võ như đấu vật và tỉ thí võ nghệ tay không hoặc có binh khí.

Thời kỳ của 2 triều đại Lý-Trần, đã phát huy võ học không những len vào mọi tầng lớp xã hội, mà còn phát huy cả ý thức dụng võ bằng tinh thần Phật giáo đời Lý và tinh thần Tam giáo đời Trần, vào cả những công cuộc chống xâm lăng, bình định nội loạn, khẩn hoang lập ấp, và mở rộng lãnh thổ.

Ý thức dụng võ nâng cao thành tinh thần thượng võ được khuyến khích triệt để trong mọi tầng lớp xã hội bằng các sự việc: Tại kinh đô, có Giảng Võ Đường thành lập song hành với Quốc Học Viện, để đào tạo những nhân tài “văn võ kiêm toàn”. Công chúa, phi tần, công tử, văn quan, thứ dân đều phải cưỡng bức học võ (múa gươm, cưỡi ngựa). Mỗi vị võ dũng hữu trách đều phải chiêu mộ dân chúng khẩn hoang lập ấp.

Binh pháp Lý Thường Kiệt chủ về công, binh pháp Trần Hưng Đạo chủ về tự vệ, được phát huy rộng rãi, làm nền tảng cho binh pháp học Việt Nam. Các chiến công lừng lẫy của Lý Thường Kiệt chống Tống và Trần Hưng Đạo chống Nguyên Mông đã làm các nước lân bang kính nể, tạo được một thời kỳ ổn định, kiến thiết và phát triển lâu dài.

5. Thời kỳ trung suy: Trần mạt, Hồ, Minh thuộc (1341-1427):

Võ học dân dã lần lần thay thế hẳn võ học quý tộc trong mọi trách vụ quốc gia: Trong thời kỳ Minh thuộc, hệ thống võ học quí tộc tại các vùng thị trấn bị hoàn toàn tiêu diệt, và quan quân nhà Minh triệt để cấm dân chúng học võ bằng cách kiểm tra dân số, bắt đeo “hộ thiếp”, nhưng võ học dân dã vẫn phát triển, qua các tổ chức huấn luyện võ tại các địa điểm bí mật.

6 . Võ học trong thời kỳ phục hưng đất nước (1427-1540):

Thời kỳ này khởi đầu từ nhà Lê, và chấm dứt năm 1540 (Nguyễn Kim phù Lê diệt Mạc).

Sau khi đại thắng quân Minh lên nắm chánh quyền, Bình Định Vương Lê Lợi chú trọng đặc biệt tới việc phát triển võ học tại dân dã, bằng cách tổ chức các khoa thi “Minh Kinh khoa” cả văn lẫn võ để tuyển dụng nhân tài võ học văn văn học.

Cưỡng bức học võ: Các khoa “Minh Kinh khoa” cũng đặc biệt áp dụng cho cả quan văn từ hàng tứ phẩm trở xuống, phải trúng tuyển mới được lưu dụng.

7. Võ học trong thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh (1540-1802):

Thời kỳ này khởi đầu từ năm Nguyễn Kim khởi nghĩa mở đầu tình trạng phân ly Lê-Mạc, rồi Trịnh-Nguyễn, tới nhà Tây Sơn và chấm dứt vào năm 1802, khi Nguyễn Ánh (vua Gia Long) thống nhất lãnh thổ.

Võ học quý tộc thời kỳ này được phục hồi và phát triển song song với võ học dân dã. Các danh tướng của các bên đối địch đều xuất thân từ cả 2 hệ thống võ học trên.

Võ học dân dã đã có lúc lấn lướt võ học quý tộc (nhà Tây Sơn đuổi Nguyễn, dẹp Trịnh), với các danh tướng xuất thân từ võ học dân dã như 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, danh tướng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân…, nhưng vì vua Quang Trung đột ngột qua đời, nên chúa Nguyễn Ánh (Gia Long), với các danh tướng xuất thân từ võ học quý tộc, đã phục thù được và thống nhất lãnh thổ.

8. Võ học trong thời kỳ 1802-1883:

Thời kỳ này khởi đầu từ khai nguyên nhà Nguyễn bởi Gia Long lập nên, tới năm chính thức đặt chế độ Pháp thuộc. Các vua chúa triều Nguyễn không khuyến khích võ học dân dã phát triển. Các chức võ quan bị đặt dưới các chức văn quan, tạo thành một quan niệm đặc biệt “trọng văn khinh võ”.

Tuy có triều đình có tổ chức các kỳ thi võ nhưng thời kỳ này võ học suy yếu do chính sách bế quan toả cảng, vua chua trọng văn thơ, phải dùng văn quan chỉ huy binh sĩ (Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản…) nên thiếu khả năng đấu tranh chống ngoại xâm khi quân Pháp tấn công.

Quan niệm “trọng văn khinh võ” đã đưa quốc gia tới tình trạng suy sụp, mở đầu thời kỳ Pháp thuộc.

9 . Võ học trong thời Pháp thuộc (1883-1945):

Trong thời kỳ này, võ học không còn được coi là một ngành học quan yếu cho sự sinh tồn của quốc gia, mà chỉ còn được coi là một ngành thể thao có tính cách giải trí.

Chính sách ngu dân (phong trào lãng mạn, rượu ty, thuốc phiện…) đã làm suy nhược tinh thần người Việt, để làm tê liệt hay suy giảm tinh thần và khả năng đề kháng.

Thời Cần Vương trở đi, tự ái võ học dân tộc bùng dậy, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám nổ ra. Người Việt bắt đầu “về nguồn” võ học và hình thành một nền võ đạo Việt Nam vào năm 1938, gọi là Vovinam – Việt Võ Đạo do võ sư Nguyễn Lộc sáng lập, nâng cao tinh thần ái quốc và cứu quốc của người Việt.

10. Võ học thời kỳ 1945 tới nay:

Thời kỳ này bắt đầu từ 1945, võ học tân tiến dân tộc sau khi hình thành từ 1938 đã phát triển mạnh trong các ngành sinh hoạt xã hội, nâng cao giá trị võ học từ một bộ môn thể thao giải trí lên võ đạo (1968), với danh xưng Việt Võ Đạo.

Song song với Việt Võ Đạo, các môn phái võ đạo du nhập cũng hoạt động và phát triển mạnh: Nhu Đạo (Judo) từ 1946, Không Thủ Đạo (Karatedo) từ 1954, Túc Quyền Đạo (Taekwondo) từ 1964, gây một tinh thần hiếu võ sôi nổi trong các tầng lớp xã hội, cùng với các môn võ khác như Yoga, Aikido (Hiệp Khí Đạo)…

Tinh thần võ đạo đã được biểu hiện trong nhiều ngành sinh hoạt xã hội như cứu trợ nạn nhân chiến họa, nạn nhân bão lụt, khẩn hoang lập ấp, và đặc biệt được huấn luyện và sử dụng cho lực lượng trinh sát, đặc công trong các trường hợp cận chiến trên chiến trường Việt Nam.

Theo Chu Hồng Châu (danviet.vn)

Linh khí trời Nam và sự tôn vinh võ Việt của cha ông

đăng 21:38, 1 thg 6, 2014 bởi Hiệu Trần Khánh

Võ học của Việt Nam là nền võ học mang nặng những nhiệm vụ đấu tranh phục vụ quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, thay vì chỉ phục vụ cho một gia đình, một xóm ấp, một lớp người giới hạn trong một môi trường nhỏ hẹp.


Người học võ mặc nhiên chấp nhận truyền thống hành võ chung, nên luôn luôn mong mỏi được có cơ hội thi thố tài năng phò vua, giúp nước.

Muốn phò vua giúp nước, phải khổ luyện tài năng và tìm cơ hội tiến thân. Cơ hội tiến thân của người võ sĩ chính là các cuộc thi võ (trước đây gọi là thí võ) của các triều đại trong lịch sử. Tiến trình thí võ qua các thời đại võ học bao gồm:

Tái hiện cuộc thi Tiến sĩ Võ tại Festival Huế 2008

Tái hiện cuộc thi Tiến sĩ Võ tại Festival Huế 2008

1. Biểu dương tài nghệ và thành tích: Trước khi có những quy chế rõ rệt về việc tuyển dụng nhân tài võ học, sự xử dụng nhân tài võ học được ước đoán là không ngoài sự biểu dương thành tích.

Sự biểu dương tài nghệ thường chú trọng tới sức khỏe (vác tạ, cử đình…), thập bát ban võ nghệ (nhất là kiếm pháp và thương pháp), tài khéo đặc biệt (cưỡi ngựa, bơi lặn, nhảy cao, chạy xa…).

Sự biểu dương thành tích có thể căn cứ vào những buổi hội làng có đấu võ và đấu vật, và các thành tích võ học đạt được ở địa phương (như đánh cướp, bẻ sừng trâu v.v…). Trong những trường hợp nhân tài tuyển dụng sẽ được điều dụng vào những chức vụ cao, sẽ có những cuộc đàm thoại trắc nghiệm đặc biệt về binh pháp học.

Lối tuyển dụng nhân tài theo phương pháp trắc nghiệm gián tiếp bằng cách đòi hỏi biểu dương tài nghệ và thành tích cá nhân, được áp dụng cho tới năm 1253 – năm thành lập Giảng Võ Đường dưới thời Trần Thái Tông.2. Thi “trắc nghiệm” võ học: Trước khi có những quy chế thí võ rõ rệt, nước ta đã áp dụng những cuộc thi “trắc nghiệm” từ đời Trần Thái Tông.

Việc thí võ theo quy chế Giảng Võ Đường để tuyển dụng nhân tài võ học do đó chỉ áp dụng với thường dân chứ không áp dụng với quý tộc, mặc dầu quý tộc (vương gia) nhà Trần, từ công chúa, phi tần tới các văn quan đều bắt buộc phải học võ với các môn chính như múa gươm, cưỡi ngựa và binh pháp, rồi được tự do tổ chức và huấn luyện những đội quân riêng để đi khẩn hoang lập ấp, được gọi là các đội quân “Vương gia hầu đô”.

3. Thi võ theo những quy chế rõ rệt: Những cuộc thí võ có quy chế rõ rệt được áp dụng từ đời Lê Thái Tổ, với chế độ Minh Kinh khoa, và tùy theo chính sách võ học của từng triều đại mà thay đổi. Những triều đại ấn định quy chế rõ rệt cho những cuộc thí võ, có thể lấy 3 triều dại Lê Thái Tổ, Gia Long làm điển hình.

a. Quy chế thi võ thời Lê Thái Tổ: Quy chế này có 3 đặc điểm sau:

Song song với việc mở trường tại khắp các lộ, các phủ để dạy cả văn lẫn võ, có tính cách cưỡng bách giáo dục cho cả con quan và con cái thường dân, triều đình mở các khoa thi “Minh Kinh Khoa” để chọn lọc và tuyển lựa nhân tài trong dân dã, gồm cả các môn thi về kinh sử và võ học.

Các văn quan từ tứ phẩm trở xuống, bị bắt buộc phải học và thi đậu “Minh Kinh Khoa” mới được lưu dụng.

Các tăng nhân cũng phải khảo hạch “Minh Kinh Khoa”. Ai trượt, sẽ phải hoàn tục.Điểm đặc biệt cần ghi nhận ở đây là, Lê Thái Tổ là một vì vua rất trọng võ, nhất là võ học dân dã. Hơn ai hết, ông hiểu rằng cuộc kháng Minh sở dĩ thành công, chính là nhờ ở những tài nguyên võ học dân dã, chớ không phải là nền võ học quý tộc đã bị ngoại xâm khống chế.

Thi võ theo những quy chế rõ rệt

Thi võ theo những quy chế rõ rệt

b. Quy chế thí võ dưới thời Gia Long: Có 4 đặc điểm chính:

Lập các khoa thi Võ tương tự như những khoa thi Văn có đủ cả thi Hương, thi Hội, thi Đình, nhưng áp dụng nguyên tắc “võ tôn văn nhất trật”, tức cùng một danh xưng, nhưng đậu về “võ” bao giờ cũng kém đậu về “văn” một trật (một bậc). Ví dụ: đỗ “võ cử nhân” thì hàm Tùng lục phẩm, còn đỗ “văn cử nhân” thì được hàm Chánh lục phẩm.

Thí võ tuy cũng có Đình thí, nhưng không lấy Võ Trạng nguyên, Võ Bảng nhãn, Võ Thám hoa, mà chỉ lấy Võ Tiến sĩ. Điều kiện dự thí Võ Tiến sĩ là phải tình nguyện thi 1 bài bằng chữ Nho, với chủ đề về binh pháp (binh thư đồ trận, địa thế hành binh…). Bởi võ không được khuyến khích, và những người nếu giỏi về Hán Văn thường ít có khuynh hướng học võ vì phải chịu đựng nhiều cực nhọc, nguy hiểm, nên hầu như không có ai dự thi Đình về Võ để hy vọng đậu Võ Tiến sĩ.

Những thí sinh đã đậu Hương thí được gọi là Võ Cử nhân

Những thí sinh đã đậu Hương thí được gọi là Võ Cử nhân

Thể lệ thi võ về Hương thí phải qua 4 trường: Cử trượng (tạ), Bắn bia (9 mũi tên, xa 30 trượng, trúng đích cả), Quyền thuật, đoản côn đánh thắng 3 độ. Thể lệ thi võ về Hội thí có 5 kỳ, được dành cho những thí sinh đã đậu Hương thí được gọi là Võ Cử nhân. Các thí sinh Võ Cử nhân được dự thi Hội tại kinh đô, cũng phải qua 3 kỳ đầu như ở Hương thí, nhưng điều kiện thi nặng hơn: Xách nặng hơn nửa tạ trên thao trình xa hơn 10 trượng, bắn 12/12 mũi tên trúng đích, đánh thắng 4/4 độ đoản côn.

Kỳ thứ 4 được gọi là kỳ đánh “lăn khiên” (giám khảo cầm cây giáo quấn vải nhúng mực đâm ra, biết tránh né không để đầu khiên có chấm mực là trúng) và kỳ cuối cùng, bao gồm cả 4 môn trên.

Nguồn: Chu Hồng Châu (danviet.vn)

1-10 of 87